Friday, November 2, 2012

CHÂN CỨNG ĐÁ MỀM


LAO TÙ VÀ VƯỢT NGỤC



“…Tá túc một đêm, sáng hôm sau đi sớm đón xe thẳng về Rạch Kiến, Long An, quê chồng bà chị hai tôi trú ẩn. Nơi đây, với tôi coi như một căn c an toàn để tái phối trí, khi có sức rồi xuất quân đánh tiếp…”


PHẦN HAI - CHÂN CỨNG ĐÁ MỀM.


Chiếc cà dom 14m x 3.5m với 127 người.


Trốn tù ra trong những ngày cuối tháng sáu, 1979. Đã hơn 4 năm sống cách biệt với thế giới bên ngoài, tinh thần tôi khủng hoảng và sợ sệt, tôi về tịnh dưỡng dưới quê nhà anh rể tôi vùng Rạch Kiến, Long An. Được vài tháng quen cách sống bình dân, tôi trở lên lại Saigon liên lạc được một số bạn bè cũ,biết được Phan V. Đuông.thằng bạn cùng khóa chung TĐ5/TQLC cũng ly đòn trốn trại tù như tôi nên tìm nhau để dựa lưng mà sống, có tình đồng đội thì dù tiền tuyến hay hậu phương, dù trong lòng địch thì chúng tôi vẫn thấy an tâm hơn.Len lõi sống qua ngày, Đuông thi bơm hột quẹo ga chợ Sai Gòn, tôi vá bánh xe đạp khu Hải Quân Công Xưởng kiếm ăn, đồng thời nghe ngóng tin tức để tìm đường vượt biển.
Vài tháng sau, gặp được Nguyễn Văn Phải cũng khóa 4/71 bên Binh Chủng Nhảy Dù được VC thả về trước ba năm,bà mẹ già anh về quê để lại căn nhà nhỏbên hông trường Đại Học Sư Phạm,thấy bạn bè không nơi nương tựa, Phảikéo một đám về cho tá túc hằng đêm, sau này có thêm Sơn, Lâm BĐQ tất cả độ khoảng trên dưới năm bảy thằng toàn là SQ trong 3 binh chủng TQLC,ND,BQĐ.

Ban ngày tủa ra đường kiếm ăn, đêm thì ghé lưng được vài ba tiếng, chúng tôi thường tranh nhau chỗngủ trên gác gần máng xối, để khi đêm về có động tỉnh thì hồn ai nấy giử, trổ máng xối chui ra mà chạy.Tháng ngày trôi qua, ngoài cái đói và phập phòng lo sợ hàng đêm, những thằng trốn tù như tôi và Đuông phải nỗ lực ráo riết tìm đường vượt biển.
Nghe Phải nói về tổ chức vượt biên của anh Sáu (Khoái Th/tá ND). Đuông và tôi thì trên răng dưới “lựu đạn”  tìm đâu ra một hai cây vàng mà đi? Nhưng tôi cũng bậm gan nhờ Phải  hỏi dùm “đi trước trả sau” cầu mong anh Sáu đồng ý. Vài tuần sau, nghe được trả lời còn một chổ cho tôi đi trong chuyến “Chín Thu” Tôi không biết mặt anh Sáu nhưng tôi thầm phục một đàn anh, cảm thông và giúp đở đàn em trong cảnh khốn cùng, như một tia sáng vươn lên hòa lẫn trong niền hy vong. Vài hôm sau ngày đổ bãi đã đến, tôi được anh hai Nhất tới dẫn đi Vĩnh Long. Trên xe đò, tôi tò mò hỏi “Hai Nhất có phải tên thật của anh không?Và “Chín Thu” là ai? Mấy anh gọi nhau bằng ám danh tôi không hiểu ra tên ai hết.
-Tôi là HSQ đàn em của anh Sáu, tôi thường hay đi trước nên mệnh danh hai Nhất.
Tôi hỏi tiếp, như vậy còn Chín Thu, anh hai Nhất trả lời:
-Chín Thu là Th/tá Mai B.T, chồng cũ ca sĩ K.L, hiện anh đang giữ con cá lớn, là bạn thân của anh Sáu yên chí đi.
Tôi thầm nghĩ số tôi quá ư là may mắn, cái danh“Mai B.T” vang bóng một thời nổi tiếng dân chơi của Biệt Đoàn .., nay được anh tới đón là điều không thể tưởng.
Tới Vĩnh Long đã chiều, anh hai Nhất và tôi ăn vội dĩa cơm lót dạ, rồi đón xe lôi chạy thẳng về điểm hẹn. Tôi không còn nhớ rõ nơi nào, một căn nhà nhỏ độ vài mươi mét vuông, cạnh bờ rạch nhỏ, vào bên trong nhà, tôi ngã lưng trên chiếc võng sau nhà. Anh hai Nhất đi tìm người liên lac. Giờ phút đến theo dự trù khoảng độ 10 giờ đêm. Tôi hồi họp chờ đợi, rồi 11 giờtôi thấy anh hai Nhất lầm lũi trở về trong bực tức anh chửi thề:
-ĐM, thằng Chín Thu chỉ rước đám ca sĩ Ngọc M.., bỏ lại cánh mình.
Lòng buồn vô hạn, nhưng cũng an ủi ,vì đâu đã mất tiền, có lẽ đây là cách chơi của đàn anh, chuyến vượt biên đầucoi như hoàn toàn thất bại, tôi lểu thểu trở lại Saigon .

Thời điểm 1979 bấy giờ, vượt biên, vượt biển là đề tài chính.Lường gạc, lừa đảo lẫn nhau là chuyện bình thường.Vợ tôi khi tới Úc cũng cực khổ,cố gắng làm gởi tiên về gia đình nhưng chỉ đủ cho thằng em trai tuổi nghĩa vụ đóng tiền vượt biển.
Đầu năm 1980, tôi tình cờ gặp anh Phan Thành Nam,trước kia anh là đ/úy trưởng phòng truyền tin Phủ Tổng Thống ở chung trại tù lúc còn ở Trảng Lớn, anh bây giờ đồng cảnh ngộ như tôi, nhưng anh may mắn hơn có được Chị Thu, người vợ rất lanh lẹ và quán xuyến công việc mọi đàng.
Anh Nam cho biết đã đóng tiền một chỗ đi rất tin tưởng,chiếc ghe đang kéo lên ụ tàu Cầu Rạch Ong sửa chữa,sẽ được xuống nước trong thời gian ngắn. Làm cách nào tôi đào ra 2 cây vàng để đưa cho chủ ghe để được có phần trong chuyến đi cùng anh Nam sắm tới.
Tôi liên lạc với má vợ tôi thường xuyên, bà rất thương tôi, chạy lòng vòng vài chỗ hỏi mượn cho tôi đến khi vợ tôi gởi tiền về thì hoàn trả lại, cũng may có người bạn cùng xóm của vợ tôi cho mượn. Được 2 cây vàng lòng mừng không diễn tả được, nhưng bấy giờ lại sợ bị mất tiền.Tôi đòi hỏi thấy chiếc tàu đồng thời được làm thủy thủ. Người chủ tàu đồng ý lời tôi. Khi đưa xong vàng, đi sâu vào nội bộ thì biết ra có 2 phe cánh đang tranh nhau làm chủ, một bên chủ máy và một nửa của chủ vỏ ghe. Cuối cùng, bên bỏ tiền mua máy tàu làm chủ, vì chủ vỏ ghe đã lấy quá nhiếu vàng. Tôi và anh Nam cũng may được hai bên đồng ý cho làm thủy thủ đoàn vì họ đang cần người chăm sóc chiếc ghe. Với tôi thêm một chỗ ngủ mới cho tôi thay đổi, trong thời gian trốn tránh. Tôi thường phụ thợ máy mỗi khi làm hộp số. Khi rảnh rỗi thì tới nhà Diệp Phi Hùng tìm anh Sơn để học hỏi lý thuyết về cách lái ghe, khi gặp sóng biển lớn, và những ký hiệu phao nổi ngoài cửa biển. Anh Sơn chỉ vẽ rất tận tình vì trước kia anh là dân lái giang thuyền PCF, anh Sơn luôn căn dặn:
-Nhớ lúc nào cũng đi sóng 6/4 hay 7/3, không bao giờ chẻ sóng 5/5. 
Những danh từ thường dùng cho dân HQ, tôi chưa bao giờ nghe,rồi anh giải thích.
-Sóng 6/4 là mũi ghe và sóng biển với góc 60 độ và 40 độ, 7/3 là 70 và 30 độ, còn 5/5 là sóng biển và mũi ghe góc vuông 90 độ, phải nên tránh trường họp này. Tôi cẩn thân ghi chép từng đoạn, vẽ hình từng loại phao đặt ngoài cửa biển. Trước đây khi còn trong tù, tôi cũng học hỏi sơ qua của mấy thằng bạn HQ chung trại nhưng có bao giờ nghĩ tới có dịp thực hiện bao giờ.

Khoảng tháng 3/1980 chiếc ghe hạ thủy,với 14m dài, gần 3m chiều ngang, vỏ nghe đi sông biến thành ghe biển. Lúc đang chờ hợp đồng tôi và anh Nam lấy ghe chạy thử lái thì dễ nhưng cập bến là vấn đề khó khăn, hơn nữa tôi nghỉ đâu phải là trách nhiệm của tôi. Vài tuần sau, khi có giấy phép hợp đồng chở cát về xã Lý Nhơn thuộc Quận Nhà Bè, cũng là dịp để thử chiếc ghe, thì đám tài công chính xuất hiện, một th/Sĩ HQ làm tài công chính, một ch/úy và hai người khác tôi không nhớ rỏ, tất cã đều là phe ta, có lẽ ngoài tài công ra, đoàn thủy thủ này toàn bộ “amateur” như tôi và anh Nam.
Sau ba chuyến đi hơp đồng coi như suông sẻ, qua sông Nhà Bè rồi tới xã Lý nhơn. Kế hoach bàn thảo sẽ đổ quân vào chuyến thứ tư với hợp đồng nước đá Huyện Cần Giờ, nhưng khi ra cửa sông lớn lái gần bên phải để bốc quân bên Vàm Láng.

Vào cuối tháng Tư, theo dụ trù sẽ tất cả chờ trên cá nhỏ (ghe nhỏ), sẵn sàng ngoài cửa sông Vàm Láng, chờ khi trời sụp tối cá lớn (ghe lớn) đến bốc rồi thẳng ra cửa biển trong đêm. Mỗi nhóm một phận sự trên bờ ông chủ ghe điều động bốc người, phần chúng tôi là làm thế nào để đưa ghe lớn “cá lớn”  tới điểm hẹn an toàn và bốc người đầy đủ.
Ghe rời ụ xuất phát khoảng lúc 8 giờ sáng, chạy sang cầu chử Y rước bà chủ ghe, lúc chờ đợi tôi lội xuống kiểm soát chân vịt lần cuối. Ghe bắt đầu rời bến, lúc đi “hợp đồng” thì không gì lo sợ, không hiểu lúc này sao lại run chân, chạy ra khỏi vùng sông Saigon, rồi khu vực Nhà Bè, xuyên qua những con rạch nhỏ tôi không còn đinh hướng được vì qua các khúch rạch cong queo, tôi vào cabin nhìn qua tấm hải đồ định hướng. Anh tài công chỉ vào hải đồ, tôi thấy đã hơn nửa đoạn đường, chúng tôi cho ghe chậm lại lúc đó độ hơn 1 giờ trưa, lòn lách trong những con rạch nhỏ. Tôi không hiếu tại sao anh tài công lại đi đường tắt này rất dễ lộ diện. Nếu là tôi lái thì sẽ đi con đường chính, cũng may là không ai phát hiện, tà tà chạy tới, con sông bắt đầu rộng dần, rồi tới rộng lớn mênh mông, anh tài công lái ra chinh giữa, nhìn qua hai bên bờ qua xa, cả đoàn thủy thủ trên ghe mừng hớn hở, hy vọng đã vươn cao, gần tới chỗ bốc người, trời cũng xế chiều.
Bỗng hàng loạt AK50 bắn ròn rã vào hướng ghe chúng tôi đang chạy. Biết bị lộ, trên ghe cả đám mất tinh thần, lúc này tôi ra lệnh cứ tiếp tục chạy, coi như không nghe biết gì, anh th/sĩ tài công cũng nghe theo, chạy thẳng qua hướng về Vàm Láng. Tiếng AK50 nổ dòn và dữ dội hơn kèm theo M79 nổ ầm ầm trước sau con tàu. Bà chủ ghe quá sợ, kêu chúng tôi quay vào, còn đang suy nghỉ thì 2,3 trái M79 nổ ầm, ầm sát bên ghe. Anh tài công hốt hoảng quay mũi tàu hướng về phía Công An. Rồi nghe tiếng AK bắt đầu bớt lại, khi thấy ghe chúng tôi hướng thẳng vào bờ.
Cửa biển quá rộng mà tôi lại không rành địa thế, làm sao tôi dám nhảy sông, nghĩ bụng đợt này mình chết chắc, bao nhiêu lần may đều thoát nạn giờ thì đã hết vận may. Có thể trong đoàn thủy thủ tôi là người tội nặng nhất, trốn tù, giấy tờ giả, thêm tội vượt biên. Cả đoàn thủy thủ mỗi người ngồi một góc, có thể họ cũng đang tìm lời đối đáp với bọn công an.

Chiếc ghe từ từ lũi vào chỗ cạn, một đám công an cầm súng nhảy lên ghe, trói tay tất cả, bắt lội xình vào trong xã, rồi quỳ một hàng như những tội phạm đang đợi giờ xử bắn.
Bà chủ ghe cũng bị đưa vào trong đó hỏi cung, và trình giấy hợp đồng bà đang giữ.
Tên công an xã quát lên:
-Hợp đồng buôn nước đá này là giả, hợp đồng vượt biên thì đúng hơn.
Bà chủ ghe cũng cãi lại:
-Trên ghe không bằng chứng vượt biên
Tên công an cười mỉn rồi nói tiếp:
-Bà có biết ai tên là Nguyễn Thị Quí không? Chủ máy của chiếc ghe này, chính bà ấy lên tận sở công anh thành phố thưa bà đó. Công văn, công điện chúng tôi nhận được từ lúc 12 giờ trưa hôm nay, và bà ấy đã cho biết bà Lê Thi Hồng cướp ghe vượt biển. Ghe này có phải mang số: SS0167 không? Nói xong tên công an quăng ra bản công điện nhận từ sở công an Thành Phố, trên đó có ghi rõ tên chủ ghe, chủ máy, và những lời tố cáo hợp đồng giả mạo để vượt biên, nên bà chủ ghe cứng họng.

Trời vừa sụp tối, chúng giải giao tù về huyên Cần Giờ, đoạn đường này phải mất cả đêm.Tôi không còn nhớ tên xã, nhưng biết là xã cuối cùng của Huyện. Sáu tên công an áp tải với 3 khẩu AK 47, 2 khẩu M16 và 1 cây M79. Nhìn những khẩu súng trên tay 6 tên công an đang giữ, trong số các loại này tôi chỉ sợ khẩu M79.
Chúng tôi được mở trói lúc trên ghe rồi bị đẩy tất cả xuống boong tàu, chỉ chừa lại một tài công điều khiển.Ghe chạy được một đoạn ngắn, anh th/sĩ tài công buồn chán nản, cho gọi tôi lên điều khiển con tàu. Tôi nhảy lên phòng lái, nhanh mắt quan sát, thấy cách công an bố trí, rồi thoáng nghỉ chắc đời mình hết chạy, một tên công an ngồi trên mũi ghe, một sau lái, một trên nóc, 2 bên hông và một ngồi cạnh bên tài công để hướng dẫn đường. Như con chim bị nhốt trong lòng, cố  tìm lỗ trống bay ra, cầm tay lái nhưng đầu tôi luôn suy nghỉ. Hơn 8 giờ đêm, trên trời mặt trăng tròn hơn nửa mảnh, ánh sáng trăng chiếu sáng trắng boong tàu. Bỗng tên công an ngồi cạnh tôi lên tiếng hỏi.
-Trên ghe các anh có gì ăn không?
Tôi suy nghĩ một chút và trả lời:
-Trên ghe có gạo, muối, cá khô sặc, cá khô đuối, nếu các anh đói bụng thì tôi đi nấu cơm, gọi thằng đàn em lên cầm lái thế tôi một đoạn, cho tôi đi bắc nồi cơm. Khi bước ra sau ghe gặp tên công an sau lái hỏi.
-Anh làm gì đi ra đàng sau này?
-Đi nấu cơm, anh ngồi trong phòng lái bảo tôi đi nấu cho các anh ăn.

Tên công an này yên lặng, thì ra công an trong phòng lái với tôi làm trưởng toán, nấu cơm xong tôi nướng cá khô sặc kèm theo khô cá đuối. Mùi cá khô làm thơm phức cả tàu, tôi thấy cả mấy tên đói bụng chờ ăn. Nấu cơm, nướng cá khô xong hơn 9 giờ đêm,tôi dọn ra phía trước giữa boong tàu, rồi mời tất cả vào ăn một lượt. Sáu tên công an tụm lại ngồi ăn.
Không biết được điểm đứng, nhưng đây là dịp ngàn năm một thuở, bằng mọi giá tôi phải thoát khỏi con tàu này. Chui vào phòng lái dặn dò thằng đàn em, thấu hiểu được hoàn cảnh của tôi, nên đã như lời tôi dặn. Con sông rộng độ chừng 100m, tôi thì quờ quạng không lội được xa.
Ghe bắt đầu lạc dần bên phải, thấy anh Đ/úy Nam trưởng phòng truyền tin PTT nằm ngoài cạnh boong tàu. Tôi nói nhỏ vào lỗ tai anh ấy,trốn không? Đã tới lúc.
Anh trả lời với giọng buồn thiu:
-Bạn đi đi, giấy tờ tôi đầy đủ, hơn nữa giờ này vợ con tôi không biết ra sao ngoài cửa biển, good luck”.

Biết anh không đi, tôi vội vàng lòn qua khung cửa sổ bên hông tàu, rồì thả nhẹ minh trầm xuống nước. Chân vịt phía sau tàu giúp đẩy thẳng tôi ra một đoạn, cố nín thở, lặn sâu xuống nước, nhưng không hiểu sao lúc này đầu tôi cứ lại trồi lên, cách chiếc ghe độ chừng 10 mét, tiếng máy ghe cứ đều đều nổ, không một nghi ngờ phát hiện, thật cám ơn thằng đàn em, rồi nín thở cắm đầu lặn tiếp, lặn mấy hơi mà ghe cũng thấy còn gần, vừa lặn tôi vừa quạt về bên phải để vào bờ. Lúc này, tôi sợ nhất là khẩu M79, lỡ khi phát giác bọn công an dùng khẩu đó để bắn chụp xuống sông, chắc tôi sẽ bỏ xác vì tức nước, AK47 và M16 thì tôi đã biết rỏ tầm tác hại, xui lắm tôi mới dính đạn này.

Cám ơn Thủy Quân Lục Chiến.
Cám ơn Quảng Trị chiến trường.
Kinh nghiệm đó tôi lấy làm cản bản.
Để đối phó cùng thực tế đêm nay.



Trần Văn Khỏe - Trưởng Ban Tổ Chức Hội Ngộ Khoá 471 Kỳ 2 San José Cali


Ghe vẫn chạy tà tà trong đêm trăng sáng, khi tôi bám được bờ thì tiếng máy đã xa dần, nhảy lên bờ tìm chỗ núp, phòng khi phát hiện ghe trở đầu tìm kiếm. Nằm yên lặng trong mấy gốc chàm hơn nửa tiếng với quần xà lỏn áo thun.Muỗi (B52) bắt đầu quần thảo khi đã đánh hơi, tôi cố tìm một khoảng trống bằng mặt để nghỉ lưng, nhưng tìm mãi vẫn không sao có được.Cuối cùng phải đành nằm trên đống chàm u lồi lõm. Chịu không nổi với đám muỗi rừng quần thảo, tôi trầm mình xuống nước để giải vây, vừa đứng yên tay chân không quậy nước, một đàn cá bay vào phập tới tấp chân tôi. Chưa bao giờ tôi nghĩ cá cắn đau như vậy.Tôi sợ một hồi nó phập luôn “thằng nhỏ” nên nhảy phóng lên bờ thà chiụ đựng B52 còn hơn. Không chịu nổi B52 thì cho tàu lặn cắn. Tôi không chợp mắt chút nào từ 10 giờ đêm tới 4,5 giờ sáng. Ánh sáng mờ mờ từ hướng đông, chung quanh thật yên tỉnh. Lạnh và đói, tôi ước gì có ly rượu đế ấm lòng.Tôi bâng khuâng nhớ lại những đêm lạnh nước ngập trong lúc trung đội đi tiền đồn ở thôn Gia Đẳng, nhớ lại đêm trốn trại ở Bù Gia Phúc năm rồi trong rừng Phước Long.Nhưng rừng cao nguyên khác xa rừng tràm ngập mặn của vùng Rừng Sát. Những ngày đó, tôi còn đồng đội, còn anh em. Bây giờ đứng đây, một mình, “tứ đầu đối địch”.

Bỗng tôi nghe đàng xa trong bờ rừng bên phải từng hồi kẻng vang lên đánh thức đoàn người thức dậy, loại kẻng này với tôi không lạ.Tránh đầu này thì nghe kẻng đầu kia. Biết mình bị lọt vào khu vực trại cải tạo nửa rồi, nhưng tôi không biết được nó là ở nơi nào. Điều trước hết là phải lội qua bên kia sông rồi tính tiếp. Tôi đi tới đi lui một hồi tìm không ra khúc sông hẹp, lu bu tìm kiếm thì trời mờ sáng, từ đàng xa tôi thấy một ông già ngồi trên chiếc xuồng nhỏ chăn vịt, tôi lò mò đi tới  khi thấy tôi ổng liền hỏi:
-Cậu làm gì ở đây?
Tôi phải đành nói thật:
-Dạ cháu đi vượt biên bị bắt khi ghe chạy tới đây rồi nhảy trốn.
-À thì ra chiếc ghe chạy qua đây hồi tối.
Tôi vội hỏi thăm dò tiếng kẻng.
Ông trã lời:
-Đây là Đặc Khu Rừng Sát, quanh đây toàn trại cải tạo, phục hồi nhân phẩm xì ke ma túy.
-Vậy bên kia sông có trại cải tạo nào không.
-Không, chỉ bên này thôi.
-Bác làm ơn đưa cháu qua sông được không, vì cháu lội không rành.
-Không được không được, cậu có thấy một đàn vịt gần 2000 con tôi đang chăn, đưa cậu qua sông đàn vịt của tôi thất lạc biết đâu mà tìm. Thôi cậu ráng mà lội qua đi.

Lòng buồn thất vọng, nhưng cũng hiểu cho ông vì đàn vịt đó là sự sống của ông. Tôi đi tới, đi lui vài lần dọc theo bờ sông, xình, bùn, cỏ lác trộn lẫn những gốc chàm và nước ngập hơn nửa gối để tìm chỗ nào hẹp nhất để lội qua, nhưng dường như không khác chổ nào. Dòng sông nước chảy xiết rộng chừng gần 100 mét. Tôi lội được hơi xa từ lúc dự định trốn tù nhưng chỉ lội tới lui trong con suối nhỏ,giờ đụng phải con sông quá rộng, lúc này tôi ước gì lội được như thằng Sinh, thằng Mỹ hai đứa nó dạy tôi lội lúc rảnh rỗi buổi chiều. Suy nghĩ bâng quơ một hồi trời sáng hẳn, đã tới lúc tôi phải quyết định lội qua, bằng mọi giá phải rời xa khu cải tạo.
Nhớ lời thằng Sinh nói, điều quan trọng nhất là khi mệt phải thả ngửa,chân đạp nhe nhàng, đừng để vọp bẻ, khi đở mệt thì lội tiếp.Tôi lấy lời thằng Sinh như bài kinh cho mình để vượt qua con sông này.
Lấy hết bình tĩnh, tôi bắt đầu lội,lúc đầu còn khỏe, thì lội sải cố gắng lắm được khoảng 20 mét, nước sông chảy xiết, quá mệt tôi thả ngửa mặc cho dòng nước đẩy, hơi đỡ mệt tới phần lội nhái, cứ sải, ngữa, rồi nhái tới được giữa sông, thả ngửa nghỉ mệt.
Nghĩ tới vợ và đứa con gái còn chưa thấy mặt, nhưng dẫu sao vợ con tôi đã đến được bên bờ tự do, có biết tôi đang sắp chết đuối để đi tìm. Tiềm thức cũ, cứ lần lược tung ra trong lúc đó, có lẽ là dấu hiệu của những người sắp vĩnh viễn ra đi.
Bỗng nhiên tôi sực nhớ tới câu truyện “Anh phải sống” của Khái Hưng, hai vợ chồng chèo xuồng ra giửa sông vớt củi, trời mưa, sóng lớn, rồi bị lật xuồng, vợ chịu chết đuối cho chồng sống nuôi 3 con, thằng Bò, cái Bé, cái Lớn  “Anh phải sống”, không lẽ tôi bị chết chìm như người vợ trong câu truyện này.
Ý chí tôi trở nên mạnh hơn “Tôi phải sống để tìm Tự Do”, trở người lại, tôi sải thêm một đoạn rồi nhái, ngủa, liên tục hai ba lần thì sắp tới bờ bên kia… thả ngửa, nghỉ mệt lần cuối rồi lội tiến thẳng vào bờ. Gần tới bờ tôi quá mệt, với nắm được cành tre nằm thòng đưa ra ngoài mé, mừng quá tôi đu lên để kéo người vào bờ cho lẹ, cành tre không chụi nổi sức nặng thân tôi, gãy kêu rôm rốp.

Nghe tiếng động, tôi chợt thấy 3 dáng người chạy thẳng vào hướng tôi. Vội vàng tôi lặn xuống chui vào gốc tre lẫn trốn, rồi ngóc đầu quan sát. Thấy 3 thanh niên với trang phục áo quần bộ đội, tôi mất hồn định lặn trốn xa, thì tôi nghe tiếng của một thanh niên trong đám.
-Đã thấy anh rồi, đừng sợ, tụi em trốn nghĩa vụ, không phải bộ đội.
Nghe tiếng nói của người miền Nam, khi nhìn thấy tụi nó trẻ, chắc là nói thật, tôi liều mạng lội ra bò lên bờ.Ba thanh niên dẫn tôi tới căn chòi nó đang ngồi ăn cơm và bắt đầu phỏng vấn.
-Anh làm gì ở đây?
-Đi vượt biên, ghe bị bắt ngoài cửa biển, công an giải về Cần Giờ, tới đây anh nhảy trốn.
-Em có nghe tiếng ghe chạy ngang đây đêm qua nhưng không nghĩ là ghe bị bắt.
Thanh niên ngồi đối diện tôi nói:
-Anh này gan thiệt, anh có biết đây là “Đặc Khu Rừng Sát” nổi tiếng cá sấu trên con sông này không? Tuần vừa rồi có đàn trâu lội ngang sông, có một con trâu nghé bị cá sấu cắn đứt một giò.
Tôi trố mắt hỏi lại “thiệt hôn” vậy mà từ tối qua tới giờ tôi cứ lên xuống nước liền liền, có biết đâu mà sợ. Quả thật là số tôi vẫn còn may mắn, đúng là điếc không sợ súng, nghĩ lại rùng mình. Hồi lúc nhỏ khi chưa đi lính tôi thường nghe nói về “Đặc Khu Rừng Sát” này, nhưng không nghĩ đươc ra là địa thế quằn quèo và hiểm trở như thế này, rất lý tưởng cho VC dể dàng phục kích.

Thấy mấy đứa ăn cơm với vài cục muối hột, tôi quá đói không mắc cở, mở lời.
-Cho anh xin nửa chén cơm được hôn.
-Được. Thằng ngồi bên cạnh bới cho tôi gần một chén cơm nguội.
Tôi đớp ngon lành, cắn hột muối mà tưởng như cục đường khi nhai cơm một hồi trở thành quá ngọt, cảm giác này chưa có trong đời. Vừa ăn tôi vừa hỏi chuyện, tụi em ở đây từ bao lâu rồi?
-Hơn sáu tháng
-Có về thành phố chơi không? Nhà ở đâu? tôi hỏi
-Thỉnh thoảng nhớ nhà, ra cửa sông lớn có giang ghe về Nhà Bè, trốn về chơi vài ngày rồi trở lại.
-Anh muốn về cầu Rạch Ong thì làm sao đi?
Thanh niên ngồi cạnh tôi bên trái nói:
-Cách đây không xa lắm, tui em biết có một bà nhà ở gần khu cầu Rạch Ong xuống đây giăng câu, nhưng lâu lâu bà ấy mới về. Tụi em dẫn anh tới đó cho anh năn nỉ, may ra bà ấy về sớm.

Nói chuyện với ba đứa thanh niên trẻ, tôi tìm hiểu để rõ thêm khu vực này. Gần mười giờ sáng, ba đứa dẫn tôi đi, qua những đoạn rừng chàm, lên đê, xuống ruộng, rồi bờ rừng chừng hơn 2 cây số, tôi nhìn thấy xa kia bắt đầu tới cánh đồng ruộng chạy dọc theo những đường kinh nhỏ, và căn chòi nhỏ mập mờ. Tôi hỏi có phải căn chòi đó không?
-Đúng rồi, tụi em dẫn anh tới đó rồi quay về.
-Cám ơn mấy em nhiều lắm, nếu không gặp tụi em thì anh biết ai mà nhờ.

Tới khúc đê quẹo vào trong chòi, 2 đứa đưng lại còn một dẫn tôi đi thẳng vào trong để hỏi.
-Dì Tư, có anh nầy muốn quá giang về cầu Rạch Ong, khi nào Dì về giúp dùm.
Tôi trình bày sơ qua cây chuyện vượt biên của tôi cho Dì Tư rõ. Rồi thanh niên quay lại chào tôi “Thôi em về”. Sau khi mấy thanh niên vừa khuất cua quẹo căn chòi, Dì Tư nhìn tôi rồi nói với giọng hốt hoảng:
-Thôi chết tôi rồi cậu ơi, ba đứa đó là điềm chỉ viên của công an thôn này. Chúng muốn hại tôi nên đưa cậu đến nhờ tôi, rồi đi báo công an để bắt luôn tôi. Thôi cậu đi tìm chỗ khác đi, tôi sợ lắm.
-Biết đâu mà đi bây giờ, cả khu vực này chỉ thấy có một căn chòi, tôi tiếp tục năn nỉ dì. Thấy tôi năn nỉ quá, dì tư xiêu lòng.
-Thôi được, tôi sẽ giúp cho có giang về cầu Rạch Ong nhưng cũng phải vài hôm nữa, bây giờ thì cậu không được ở trong chòi mà phải ra bờ rừng mà ở, khi nào tôi về sẽ cho thằng con ra kêu như vậy an toàn cho cậu và cũng an toàn cho tôi.

Rồi Dì tư chỉ hướng trước mặt chòi là khu rừng chàm dầy đặc, cách đó độ vài trăm thước, tôi nghe dì nói cũng có lý nên nghe theo, hơn nửa cũng không còn cách khác. Có người nhận giúp lúc là vô cùng ơn phước lớn. Tôi vội vàng cám ơn dì Tư rồi tiến về rừng. Đi gần tới đám rừng chàm tôi nghe tiếng động rào rào dưới đất phía trước mặt, đưa mắt nhìn xuống tôi thấy hàng ngàn con còng đỏ chạy chui vào hang lẩn trốn khi nghe tiếng động của chân tôi bước đi đạp lên trên đám lá khô. Vào bờ rừng chừng năm ba thước, tôi lựa chổ mát nhất trong đám chàm khô, nằm kê đầu vào nhánh rễ lớn. Mệt lã, tôi nằm yên thiêm thiếp, tưởng là xác chết, một đám còng bò ùa ra cấu xé tay chân tôi. Tôi vùng dậy đám còng văng ra tứ phía, tưởng rằng đâu chúng sợ khi biết tôi không là xác chết. Khi thiếp đi thì chúng nó lại xông vào cắn tiếp, chẳng ngủ yên được với đám còng đỏ này.

Cả đêm ngâm nước, giờ thì trời nắng chang chang trong người tôi bắt đầu lên cơn sốt, lạnh rung cầm cập giữa buổi trưa, nhắm mắt nằm co rút như con tôm cho đỡ lạnh. Nghe có tiêng động trên nhánh chàm nho nhỏ, tôi mở mắt nhìn lên thấy một con rắn lớn bằng cườm tay đang cuộn mình bò xuống. Tôi nhắm mắt nằm yên không nhúc nhíc, để mặc rắn cắn hay mổ gì cũng được. Con rắn bò qua cạnh đầu tôi rồi chui vào đám rác.
Nằm ngoài rừng được vài ba tiếng, tôi nghĩ lúc đó đô khoảng 2 giờ trưa. Chịu hết nổi cơn sốt, tôi đi liều trở vào chòi. Dì Tư thấy tôi vào vội hỏi:
-Cậu vào đây làm gì? Đã nói cậu phải ở ngoài rừng.
-Cháu bị sốt lạnh, ngoài đó nắng quá chịu không nổi, rồi tôi tiếp tục năn nỉ dì Tư.
Suy nghĩ một hồi rồi Dì Tư nói:
-Tôi có thể giúp đưa cậu tới xã Lý Nhơn, rồi từ đó đi bộ dọc theo đê chừng 5-7 cây số, qua phà, rồi đón xe về cầu Rạch Ong, nhưng đưa qua cửa biển rộng này phải mất hơn 2 tiếng.
-Cháu trong mình còn vỏn vẹn 80 đồng, vừa nói tôi vừa móc trong túi quần sọt đưa dì hết cả 80 đồng. Dì Tư cầm lấy nhưng không hài lòng lắm, thấy mắt nhìn chiếc nhẫn cưới vàng 18K tôi đang đeo trên ngón tay áp út, hiểu ý dì Tư tôi tuột nhẫn ra đưa. Ngay sau đó, thái độ dì đổi khác.
-Thôi được, để tôi kêu 2 cháu chuẩn bị ghe đưa cậu về xã Lý Nhơn. Nhưng nè nghe tôi dặn, khi tới xã rồi cập trên đê mà đi qua phà chỉ tốn 3 đồng, đón xe về Rạch Ong 5 đồng là tám. Đây tôi cho lại cậu.
Dì Tư cho tôi lại đúng 8 đồng, tôi vội vàng cám ơn dì.

Hai thằng con tuổi chừng 13-15 đã chuẩn bị xuồng xong,rồi vào dẫn tôi ra con kinh nhỏ. Tôi thấy chiếc xuồng 3 lá, cùng đống lá chuối bên cạnh xuồng. Tôi vừa bước xuống ngồi yên trên xuồng, thì hai đứa nhỏ nói:
-Anh nằm xuống đi, để tụi em phủ lên người lớp lá chuối, để ra ngòai kia công an không để ý, tưởng tụi em đi chở ghe lá chuối.

Tôi nằm xuống theo lời hai đứa nhỏ, rồi nó phủ lên người mình mười mấy tấm lá chuối tươi.
Thằng anh chèo mũi, đứa em chèo lái. Chiếc xuồng nhỏ chở tôi luồn từ kinh này qua kinh khác, hơn nửa tiếng mới qua hết đoạn kinh nhỏ trong khu Rừng Sát. Khi ra tới cửa con sông lớn, chiếc xuồng nhỏ bắt đầu gặp sóng đi chậm dần, thấy hai anh em đứa nhỏ tôi vô cùng tội nghiệp, giá tôi còn tiền cũng đưa hết cho hai em. Thỉnh thỏang tôi ngóc đầu lên nhìn xem còn bao lâu nữa.
Thằng em sau mũi nói “ đã hơn nửa đường, còn gần một tiếng nửa mới tới xã Lý Nhơn”
-Tụi em có thường chèo ra khu vực này không? Rồi bắt đầu tôi hỏi chuyện
-Thỉnh thoảng qua đây bán cá, tiện đường về thành phố mua những món đồ cần thiết.
-Tụi em chèo xuồng có mệt không?
-Quen rồi ngày nào mà không chèo, giăng câu, đi chợ, chèo về nhà mổi tuần còn xa gắp bao nhiêu lần đoạn đường chở anh đi.

Trò chuyện với hai đứa nhỏ một hồi thì xuồng đã tới xã Lý Nhơn.Hai đứa nhỏ nói tôi ngồi dậy đi, tới nơi rồi đó. Tôi chỉ nó cho tôi xuống chỗ tôi đổ cát hai tuần trước đó. Rồi chiếc xuồng chèo thẳng tới nơi.Trước khi xuống hai em căn dặn:
-Anh cứ đi thẳng trên đường đê này 5-7 cây số sẽ gặp bến phà, qua phà rồi đón xe về cầu Rạch Ong đừng sợ lạc anh cứ đi đi.
-Cám ơn hai em nhiều lắm, thôi hai đứa trở về nhà đi.

Lúc này đã hơn bốn giờ chiều, trong túi được dì Tư cho lại 8 đồng, cũng hồi hợp sợ không đủ tiền xe. Bước đi trên đê có một mình đơn độc, về tới đây tôi cũng bớt sợ rồi, quần sọoc, áo thun, đi chân không như người làm ruộng, phóng đi thật lẹ, được vài cây số vẫn không thấy bóng người. Tôi đâm ra lo sợ nhưng cũng phải bước đi, được vài cây số nữa thì tôi nhìn thấy được một dãy nhà từ đằng xa, thật mừng rỡ, có lẽ là tới bến phà. Khi đến gần thì quả thật vài chiếc ghe xuồng trước mặt đợi chở khách qua sông lấy giá 3 đồng. Quả thật dì Tư nói đúng. Trả 3 đồng qua sông là tới Nhà Bè, tới bên xe lam về cầu Rạch Ong tôi hỏi đúng giá 5 đồng. Tôi phóng lên ngồi cận bên bác tài, khi nhìn tôi lạ ông tài xế hỏi
-Đi đâu mà chân không, quần  xà lỏn, áo thun vậy?
-Ghe đi hợp đồng bị bể hộp số ở xã Lý Nhơn, tôi phải lội bộ về nhà kêu thợ máy.

Thấy có lý bác tài không hỏi nữa. Khi xe chạy đến ngang cầu Rạch Ong tôi xin xuống. Hết tiền, tôi liều quắc đại Honda  ôm kêu chở thẳng về ngã sáu chổ nhà bạn thân của thằng em,là một trong những nơi tôi thường tá túc. Về tới nhà cũng may, tôi xin được 10 đồng đem trả tiền xe.
Tá túc một đêm, sáng hôm sau đi sớm đón xe thẳng về Rạch Kiến, Long An, quê chồng bà chị hai tôi trú ẩn. Nơi đây, với tôi coi như một căn cư an toàn để tái phối trí, khi có sức rồi xuất quân đánh tiếp.

Mất hết tiền trong chuyến đi này nhưng an ủi là tôi vẫn còn mạng sống. Vượt biên quả thật là không đơn giản. Sau này khi trở lại Saigon để tìm đường vượt biển chuyến thứ ba mới vỡ lẽ cũng vì lòng tham của chủ nên chuyến thứ hai của tôi thất bại hoàn toàn.

Văn viết không hay, hơn 32 năm đã bao lần tôi định viết lại chuyến trốn tù, để cháu con tôi, hay đời sau được biết, nguồn gốc ở đâu và vi sao chúng được tới nơi này.
Nhờ Lý Khải Bình cho tôi dịp gặp đuợc 2 NT trong buổi tiệc tân gia. Cám ơn NT Tô Văn Cấp, NT Phan Nhật Nam đã khuyến khích tôi cứ viết lên những gì tôi nghỉ, nên đã hoàn thành xong câu chuyện trốn tù..

Chuyến trốn thứ ba của đời tôi vô cùng ngoạn mục, cũng là chuyến cuối cùng tôi giã biệt XH-CNVN.

Sunday, October 28, 2012

HẮC LONG BẠN MÌNH!

Khỏe, 

Tao đọc mà không muốn nó kết thúc. Căng thẳng hồi hộp quá. Mình cầm súng là tráng sĩ, mình buông súng là nghệ sĩ. Tao nói vậy chắc hơi quá hớp! Thôi mà, có ai trách mình gì đâu phải không mậy. Tao post lên để bạn bè mọi người  cùng chia sẻ.

n471





Sau ngày quốc hận 30-4-1975. Hầu như tất cã Sĩ Quan QLVNCH đều bị lừa bịp bằng danh từ “cãi tạo tư tưởng” trongmột  thời gian nhất định. Thế rồi, như một đàng trẻ mới lớn, từng đoàn người lũ lượt kéo nhau ra trình diện để được vào trại cãi tạo tập trung. Trong số đó có chúng tôi, Mai Xuân Cương, Diệp Phi Hùng và Trần Văn Khỏe  cũng rủ nhau vào tù một lượt. Sau gần 3 năm vất vã trong cảnh lao tù cộng sản, ngày ra tù gần như tuyệt vọng.




                                                                                   
LAO TÙ VÀ VƯỢT NGỤC - PHẦN ĐẦU..


Đầu năm 1978 nhóm chúng tôi gồm 6 ngưới có ý định trốn trại trại tù, kế hoạch đi qua khu trại tù Bù Gia Mập rồi xuyên ranh giới Cambodia, vượt sông Mekong qua vùng Bắc Tam Bang đến Thái Lan bằng đường bộ. Đây là việc làm rất quan trọng đến sự sống còn, nên trong nhóm không ai khác hơn ngoài tình 4 chữ TQLC, trong đó có 3 trung đội trưởng của ĐĐ3/TĐ5  là Th/úyTrần Văn Khỏe, Th/úy Diệp Phi Hùng, Th/úy Mai Xuân Cương. Ba  thằng bạn, chúng tôi rất thân với nhau cho dù bất cứ hoàn cảnh nào.

Khoảng cuối mùa thu 1978, một người bạn sau cùng trong số 4 đứa ra trường về chung đơn vị đã bị gục ngã trong hoàn cảnh khốn cùng của traị tù Bù Gia Phúc, thuộc tỉnh Phước Long, nằm cách ranh giới Cambodia độ trên 10 cây số, đó là Mai Xuân Cương.
Trại tù được bao quanh bởi 3 hàng rào xây dựng bằng tre Lồ Ô và kẽm gai của QLVNCH để lại, mỗi hàng cách nhau khoảng 5 tới 10 thước, do chính những tù nhân Công Binh QLVNCH thực hiện, “phe ta làm hàng rào kiên cố nhốt phe mình”. Bên ngoài hàng rào thứ 3 là những vọng gác cao khoảng độ 10 mét và có vệ binh canh gác hàng đêm
.
Nguyên nhân đưa đến cái chết Th/úy Mai Xuân Cương.

Tổ chúng tôi âm thầm chống đối, hầu hết trong tổ toàn dân tác chiến, nhiều lần chúng tôi bị kiểm điểm là tổ có “khả năng” lao động sản xuất thấp nhất trong đội, nên cả đội, 4 tổ phải chịu hình phạt chung, ngồi mổ xẻ hằng đêm, nhưng rồi vì sự công bình toàn đội, nên cả tổ chúng tôi bắt đầu làm việc trở lại.
Một hôm, không nhớ rõ ngày, tháng, vào năm 1976 trại tù Trảng Lớn L3/T4, theo chỉ tiêu 5kg rau mỗi người trong tháng, nên mọi người cố gắng đắp thêm vàì luống rau muống trên mặt đường trải đá. Tôi Hùng, Cương, Sơn, Lâm… cả tổ đều chia nhau đi tìm đất mềm để làm thêm luống rau.Tôi lấy đất gần bìa hàng rào, Hùng, Sơn, Cương thay phiên xuống hầm ếch lấy đất cho lẹ. Gọi hầm ếch, vì như cái hang không chân khổng lồ, nhìn rất nguy hiểm, đất có thể sụp đổ bất cứ lúc nào, vì mọi người ai cũng muốn lấy đất mới, nên đã tạo thành cái hố lớn không chân. Tôi cũng xuống hố lấy vài ky đất và linh cảm cho tôi biết có điều gì không ổn nên tôi leo lên đi tìm để cào một nơi khác. Hôm đó, Cương đào đất, Sơn kéo, Hùng đổ vào những luống rau. Được khỏang độ 10 ky thì tôi nghe tiếng rú lên của Sơn: “đất sụp, đất sụp”. Một khối đất khổng lồ đè lên người Cương, không  nhìn thấy bạn mình đâu hết, chúng tôi ù ra, móc đất tìm bạn kéo lên. Đống đất dầy cộm, cả đám tay móc, chân cào, đâu độ năm, ba phút, thấy được cái chân Cương. Chúng tôi mừng rỡ “nó đây rồi, nó đây rồi” Sơn, Hùng và tôi kéo Cương ra khỏi hầm ếch, rồi đưa lên trên mặt đường.

Lúc bấy giờ tôi nhìn thây hai mắt Cương trợn trắng, sùi bọt mép ra, thân hình cong như con tôm, chúng tôi phụ nhau keó thẳng thân người ra, khi phát hiện cột xương sống bị gãy, bấy giờ mỗi thằng một tay, khiêng bạn chạy thẳng vào bịnh xá của tiểu đoàn cách đó độ vài trăm thước.
Trời đã sụp tối, bệnh xá chỉ có vài tên vệ binh được bổ làm y tá, thấy chúng tôi sôn xao tên vệ binh hỏi “thế anh kia bi gì thế mà đưa vào đây?”Chúng tôi trả lời “báo cáo anh, bị đất sụp, đè gãy xương sống nhờ anh xem dùm”.Tên vệ binh bảo “bỏ anh đó xuông rồi các anh trở về trại đi”.Chúng tôi nài nỉ xin họ chích thuốc giảm đau cho bạn mình, vì thấy Cương quằn quại quá đau.

Tôi không để ý gì đến khung cảnh chung quanh mà chỉ chú tâm vào Cương thì giật mình nghe bên kia nhà có tiếng hét la đau đớn, quay sang nhìn thì thấy xe Honda chiếu ngọn đèn pha  thẳng vào trong cái mùng xanh màu nhà binh, bấy giờ tôi trố mắt nhìn kỹ xem việc gì, thì ra một tên bộ đội y tá cầm cây cưa sắt đang cưa cáí chân cuả một bạn tù, đi lao động cuốc trúng một đầu đạn M79 khi sáng, cả đám nhìn nhau lắc đầu, lúc đó tên bộ đội chĩa súng vào chúng tôi quát lớn bắt chúng tôi phải trở về phòng ngay! Biết làm sao bây giờ, đành lủi thủi ra về, bỏ lại bạn mình nằm quằn quại ngoài hiên không một liều thuốc trị.
Vài tuần sau khi Cương trở về, đi đứng như một thằng GÙ Nhà Thờ Đức Bà và kể lại:
-ĐM, tụi nó đâu có thuốc gì mà chích, mà cho…Biết cái đéo gì mà trị. Mỗi khi tao bị lên cơn sốt thì thuốc “KÝ NINH” và khi đau quá kêu la thì tụi nó cho liều thuốc “KHẮC PHỤC”, ráng chịu “đau rồi sẽ qua”.

Vừa kể, Cương vừa vấn điếu thuốc rê, nói thuốc rê cho sang chứ thực sự toàn là râu bắp nhúng nước thuốc lào, đem sấy khô hút cho đỡ thèm. Cương hỏi tôi:
- Khỏe, mày còn nhớ mấy sĩ quan Võ Bị khóa 29 hay 30 gì đó không? Họ tốt nghiệp trên đường di tản, về TQLC rồi đi theo thực tập với mày không? Thằng Hải, cái đêm mà tụi mày khiêng tao lên bệnh xá, thì nó đang bị cưa cái chân trong mùng. Nghe tụi mình gọi tên nhau nó nhớ tên mày và hỏi tao mới biết ra phe ta, cùng là Mũ Xanh.Tội nghiệp nó bị cụt một chân, đui một con mắt vì cuốc trúng vào đầu trái M79.

Sau này, vì Cương bị sốt rét, đi tiểu bị té nứt khớp xương sống, tủy sống chảy ra, đó là nguyên nhân đưa tới cái chết của ngườì đồng đội, đồng tù: Th/Úy Mai Xuân Cương .
Nhiều lúc ngồi một mình, suy nghĩ vu vơ, nhớ chuyện này rồi sang chuyện khác. Đôi lúc tôi nghĩ số tôi lận đận nhưng gặp nhiều may mắn. Ngày đó, nếu Cương không chết và ba người bạn vẫn quyết định trốn tù theo dự tính lúc ban đầu thì số phần chúng tôi chưa biết sẽ như thế nào? Có lẽbỏ thây trong rừng sâu, một nơi nào đó trên đất Cambuchia, hay bị chặt đầu vì đám quân Bôn Bót. Sau khi Cương chết, tôi nghĩ đến hướng khác, đổi hướng “tiến về Saigon”
                                               
Tôi bí mật viết thư gởi về gia đình làm giây tờ giả. Tội nghiệp má tôi khi nhận được thư, nghe tôi có ý định trốn trại, bà rất lo lắng vô cùng nhưng cũng chìều tôi, bà nói ra cho em trai tôi biết, thằng em cũng đồng ý, vì đã 4 năm rồi mà vẫn chưa có ngày về. Bà hỏi tiền đâu mua giấy tờ giả trong lúc không có cơm ăn?
Thằng em lanh lẹ trả lời:
-Thẻ công nhân của con, gỡ hình ra dán hình ảnh vô, rồi vô hãng chôm giấy phép, chuyện nhỏ. Còn chuyện lớn là ảnh trốn có được an toàn hay không thôi”.
Vài ngày sau, nó tìm đâu ra tấm hình thẻ học sinh của tôi dán vào thẻ công nhân của nó, rồi đưa cho má tôi kèm theo tấm giấy phép để trống.
Lúc bấy giờ, tình hình thay đổi, chuyển trại giải giao tù về Hàm Tân, Suối Máu, Chí Hòa cho bộ Công An quản lý, tù nhân trốn trại bắt được xử bắn tại chổ.
Mới cách đó một hai tuần, trại kế bên đã bắn làm gương một bạn tù trốn trại, treo hàng rào để tới thối mới được chôn.
Nhớlúc tổ tôi trực làm anh nuôi, đem cháo vào nuôi 2 bạn trốn tù không may bị bắt lại, trước khi chưa được 3 năm, bị đánh đập đến nổi một thằng thì con mắt lòi ra đày máu, còn một đứa thì gãy cánh be sườn chỉa ra ngoài một khúc, hai chân bị cùm trên đôi thanh gổ, thoi thóp trong cái chòi tôn nhỏ xíu, tiếng nói thều thào củaThời còn văng vẵng bên tai “đợt cháo tới cho xin chút đường” thấy bạn nằm thiếp tôi nhận lời sẽ cố gắng, trong khi được lệnh lon chao trắng cho cã 2 thằng.

Quá thương bạn,hôm sau tôi làm liều một chuyến, bỏ thẻ đường dưới đáy lon Guigoz rồi đỗ lên lớp cháo.
Như đã đón được việc làm của tôi tên vệ binh chận lại hỏi:
-Thế, anh đem gì cho chúng nó hôm nay?
Tôi đáp lại:
-Báo cáo anh, đem cháo trắng cho hai anh ấy.
Vệ binh:
-ĐM.. mấy thằng phản động mà gọi bằng anh, tớ đập bỏ mẹ bây giờ.
Rồi hắn đi thẳng ra ngoài sân nhà, bẻ nhánh cây khô thọt vào lon Guigoz cháo tôi đang cầm quậy lên, thấy cục đường vàng khè dưới đáy quét văng ra ngoài, rồi lấy khẩu AK50 quay báng súng định đập vào mặt tôi.
Nhưng rồi không hiểu hắn nghỉ sao, bỏ súng xuống. Nếu không chắc giờ đây miệng tôi ăn toàn răng giã.

Việc thăm nuôi trở nên khó khăn hơn trước. Thân nhân thăm nuôi bị khám sét rất kỷ lưỡng, đám vệ binh lợi dụng việc này tha hồ khám sét mò dưới…, bóp trên, vợ hay em gái tù nhân lên thăm. Má tôi phải can đảm và vất vả lắm mới đem được giấy tờ cho tôi.Tôi hỏi má tôi có bị tụi vệ binh mò không?Bà trã lời tao già nó chê, chỉ mò mấy đứa nhỏ thôi, tụi nhỏ nó la, khóc um trời.
Mẹ con nói với nhau qua loa vai câu chuyện, trời đã tối, tôi trở về trai, đổ lon Guigoz mắm ruốc ra, tôi ứa nước mắt khi nhìn cuộn giấy được bao thật kỹ trong bịch nylon, cũng may là tụi vệ binh không bắt đổ ra khám  xét. Phần tôi đã xong, tôi hỏi Niên người bạn “Kình Ngư, Phạm Bá Niên” anh trả lời xong xuôi một ngày cơm vắt. Thế là dự trù 6 người lúc ban đầu thì 1 chết (Cương), lạnh cẳng 3, chỉ còn 2 là tôi và Niên.

Kế hoạch vẫn thực hiện, nhưng chưa quyết định ngày giờ xuất phát.Lúc này còn lại tôi và Niên hằng đêm bí mật bàn thảo kế hoạch.Đêm thì thầm cuối cùng là đêm 18-6-1979. Hai thằng nhìn nhau nắm chặt tay trong quyết đình cuối cùng. Có thể, trong đêm mai ngày 19-6-1979 ngày thành lập quân lực VNCH cũng là ngày giỗ của 2 thằng, dẫu sao ngày này gia đình chúng tôi cũng dể nhớ.Sống chết lúc này, dường như với tôi không thiết tha nửa.
Ngày hôm sau tôi chuẩn bị những đồ cần thiết để rời tuyến xuất phát đúng 9 giờ đêm, sau khi tiếng kẻng vang lên tới giờ đi ngủ.

Theo kế hoạch, khi kẻng 9 giờ đêm, tôi dậm chân tại chỗ. Niên sẽ đến bắt tay để rời tuyến xuất phát.  Như cảm giác của giây phút đầu mỗi lần trước khi đụng trận trong mùa Hè Đỏ Lửa 1972, tim tôi đập mạnh, người lạnh run, trong khoảng 5-10 giây. Năm phút hồi họp chờ đợi đã qua, Niên vẫn chưa đến tôi suy nghĩ có lẽ hắn lại đổi ý rồi. Tôi tiếp tục xem đồng hồ, khi tiếng ồn ào trong láng bắt đầu lắng dịu thì Kình Ngư xuất hiện kéo giò Hắc Long. Tôi vội kéo tấm mền giầy cộm làm bằng bao cát phủ lên chiếc gối dài, rồi chui ra khỏi láng, thấy Niên đang núp chờ tôi ngoài cửa chòi.

Giây phút định mệnh đã đến, giây phút hồi hộp chờ đợi đã qua, lúc nầy tim tôi gần như đều hòa trở lại để đương đầu với giây phút thập tử nhất sanh. Hai thằng tôi lần lượt đi lòn qua từng láng, trong lúc tiếng xì xào sắp bắt đầu im lặng, cũng là lúc cán bộ cai tù đi kiểm soát.
Qua khỏi láng cuối cùng một khoảng độ vài mươi thước, thì đụng lớp hàng rào thứ nhất, dễ dàng vạch kẽ hở của hàng tre Lồ ô chui qua.Kế tới là hàng thứ hai hơi khó, những cánh Lô ô còn chưa siêu vẹo, cuối cùng cũng cố lòn lách chui qua được.Lúc này ngoài trời tối đen như mực, cả doanh trại dường như hoàn toàn yên lặng khi tôi quay đầu nhìn lại để lắng nghe.
Lớp hàng rào thứ 3 là vấn đề trở ngại lớn, Niên ra dấu hiệu hỏi ý tôi nên đi hướng nào? Theo dự trù thì hướng phía trước mặt là đường xe chạy thì dễ dàng hơn, nhưng tôi quyết định đổi hướng, chỉ thẳng vào vọng gác, “nhứt chín nhì bù”. 

Theo kinh nghiệm chiến trường, nơi nào khó thì chỗ đó tương đối an toàn, giờ đó mới quá 9 giờ đêm, vệ binh chắc chưa ra vọng gác. Cả hai đồng ý bò thẳng về hướng vọng gác gần tới chân hàng rào, dừng lại nghe ngóng, quan sát, chúng tôi nhìn thẳng lên vọng gác đâu chừng 5 phút xem có động tĩnh gì trên đó không. Quả như điều tôi đoán, chưa thấy tên vệ binh nào ra gác giờ này. Tới chân hàng rào thứ ba, cao độ chừng 3 mét bên trên là 3 lớp kẽm gai chồng lên như hình tam giác, dưới chân thì dầy đặc kẽm gai, không cách nào chui qua lọt được. Vừa suy nghĩ tìm cách đối phó, vừa lầm thầm chưởi thề..quân ta làm hàng rào nhốt quân bạn kỹ quá, giá ngày xưa… rào kỹ như vầy thì đỡ biết mấy.

Niên và tôi mỗi thằng cố tìm cách bám vếu để leo lên đỉnh hang rào, tránh động tĩnh tối đa, không thằng nào lên được. Cuối cùng, tôi quyết định ngồi xuống để đưa Niên lên bằng hai vai của mình, khi bám được vòng kẽm gai trên cùng, Niên từ từ tìm kẻ hở chui qua, đeo lung lẳng trên 3 vòng kẽm gai, độ vài phút sau tôi thấy Niên xuống tới chân bên kia hàng rào. Qua được một thằng rồi, còn tôi làm sao tôi trèo qua đây?Thì bên kia Niên cố gắng banh kẽm gai chui vào đưa 2 cánh tay chịu trên kẽm như một nấc thang cho tôi bước lên, không cách nào khác tôi đành đạp lên tay Niên cố gắng hết sức mình để đu lên vòng kẽm, cũng may tôi nắm được vòng đầu rồi đu lên, lúc này tôi nhớ đến leo lưới trong quân trường lần đầu tiên có cơ hội thực tập và cũng là lần cuối của đời tôi, đu tòn teng như nhện, khi lòn qua gần hết kẽm tôi vội vàng buông tay nhảy xuống, vòng ngòai cho lẹ, nhưng lưng quần tôi còn vướng móc kẽm gai kéo tôi ngược lại lơ lửng giửa chừng. Tiếng lồ-ô đổ gãy kêu răng-rắc.Niên vội vàng chạy tới đỡ tôi bước xuống.

Thật may mắn cho 2 thằng tôi, giả sử có vệ binh canh gác đêm đó thì 2 thằng tôi đã ra người thiên cổ. Ngồi xuống lấy lại bình tĩnh, định lại vị trí rồi bắt đầu tìm lối ra, gai mắc cở chằng chịt mọc trộn lẩn trong đám tranh khô, mỗi bước đi chúng tôi tạo nên từng tiếng kêu xào xạc. Bọn vê binh thường hay bắn “la fan” vào nơi có tiếng động ban đêm may ra chết được heo rừng. Tôi nhớ có lần tôi làm “anh nuôi” cùng một thằng bạn qua khu vê binh ăn trộm mướp, dưa leo vì quen đường đi lối về nên an toàn trở lại. Nửa giờ sau, tiếng AK nổ vang rền, tiếng vệ binh la inh ỏi heo rừng, heo rừng lọt vào giếng cạn, tên vệ binh chỉa đèn pin xuống giếng định bắn thì nghe tiếng la đừng bắn tôi …tôi  không phải heo rừng, thì ra là thằng tù đói như tôi cũng đi ăn trộm nhưng không thuộc đường nên bị băt và đánh bầm dập cả đêm nhưng thoát chết.
Kinh nghiệm đó, Niên và tôi lần mò tường bước một, có lúc phải bò thật chậm hay lom khom bước đi từng chặng một.Mất khoảng gần 2 tiếng đồng hồ để vượt khỏi đám tranh dài chừng 200m. 

Ra tới mặt đường xe chạy, theo kế hoạch dự trù là đi qua đường tiến thẳng vào rừng độ chừng 20m, quẹo trái, cập dọc theo lề đường đi độ chừng hơn cây số, qua khỏi bộ chỉ huy Trung Đoàn, mới ra đường lộ. Lúc này chúng tôi làm theo kế hoach vạch sẳn, qua đường lần theo con đường nhỏ mà đi. Hai thằng yên lặng lần mò đi được hơn nửa giờ, tôi có linh cảm dường như bị lạc, nếu đúng đường thì có lẽ đã qua khỏi vọng gác Trung Đoàn, nhưng con đường mòn này dẫn xuống chân đồi, ẩm ướt và sương mù.
Tôi bảo Niên tụi mình bị lạc rồi, bẻ góc 90 độ, đi lên. Hai thằng đồng ý chuyển hương đi, trời tối đen, bàn tay đưa ra không thấy ngón, đi được khoảng 20 phút, tôi thấy đàng xa dường như có ánh đèn dầu. Kéo Niên ngồi xuống định lại hướng, thì ra ngọn đèn dầu thấp sáng loe lóe trong căn nhà thăm nuôi, bên cạnh vọng gác của Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn, nếu không nhờ ngọn đèn dầu của căn nhà thăm nuôi đêm đó, thì hai thằng tôi  đi vào ngay họng súng của vệ binh trước cửa cổng Trung Đoàn.

Định được điểm đứng trọng yếu, không dám tiến sâu vào rừng nữa, chỉ lùi vào một chút rồi tiép tục hướng Ngã Ba Đường 10 mà đi, được một đoạn hơi xa Trung Đoàn, rồi lần mò trở ra đường xe chạy. Tới được “Ngã Ba Đường 10” khoảng 12 giờ đêm. Đã 3 giờ đồng hồ mà đi chỉ được hơn 3 cây số, chúng tôi bằng mọi cách phải đi tới cầu Sông Bé đúng 6 giờ sáng, khi vệ binh gác cầu rời vọng gác vào tập thể dục, lợi dụng cơ hội này để qua cầu. Đoạn đương nay độ vài mươi cây số.Niên và tôi bắt đâu bám đuôi nhau, đi như chạy khoảng 10km, đứng lại nghỉ mệt, Niên đề nghị:
-Nếu hai thằng bám đuôi nhau thế nầy thì nguy hiểm, bây giờ một thằng đi trước, thằng sau độ 10 mét, nếu có bị bắn hy vọng có thằng chạy được vì ban đêm bọn nó không biết mình đi mấy người.

Chúng tôi “oẳn tù tì”, ai thua đi trước và Niên đã thua, Niên bảo nếu có gì nghi ngờ thì Niên sẽ đưa tay ra sau xoay tròn. Mật hiệu đã xong, Niên vội vàng lên đi trước. Lầm lũi đi trong bóng đêm, được thêm vài giờ nữa, ra tới quán “BA CÔ” lúc này tôi độ chừng 4 giờ sáng, trời bắt đầu bớt tối dần, khoảng cách chúng tôi càng xa, chỉ bám nhau theo mật hiệu mà thôi. Đi thêm đoạn nữa, thì bắt đầu đoạn dốc đồi thật cao, tới đây chúng tôi đã biết được khi đổ dốc là sẽ tới gần cầu “Sông Bé”. Đang miên man nghĩ đến những đều may mắn, trời thương không mưa, không một toán vệ binh gác đường thì Niên đã lên tới đỉnh đồi cao, tôi còn chưa được nửa đồi, bổng thấy có dấu hiệu khác thường, tay Niên đưa ra sau lưng xoay tròn, tôi giật mình chạy nhanh vào lề đồi núp vào lùm cây, quan sát. Dường như có tiếng đối thoại nhưng không nghe rõ vì một đoạn quá xa, hơn nữa trời lúc này vẫn hơi tối. Chừng một lúc, tôi thấy Niên đi trở lại bình thường rồi biến mất đi khi xuống bên kia dốc đồi.

Tôi đoán chắc là có chướng ngại vật, nhưng không biết là cái gì.Phải đành chui ra bước lên.Đã lên lưng cọp rồi phải cố điều khiển nó mà thôi, tôi lấy lại bình tỉnh, bước đi lên đồi.
Khi tới đỉnh thì bỗng dưng có tiếng quát to từ phiá bên kia đường:
-Anh kia làm gì, đi đâu sớm thế?
Một giọng nói gần như quen  thuộc hàng ngày của những vệ binh, hay cán bộ cai tù. Tôi giật mình quay sang, thấy tên bộ đội với khẩu AK50 chỉa thẳng vào người tôi. Lúc này, không hiểu sao tôi bình tĩnh như chưa bao giờ hết.
Tôi trả lời như người một công nhân bình thường chẳng sợ sệt gì:
-Trời đất ơi, anh làm tôi hết hồn. Tôi là công nhân ở thành phố HCM lên thăm ông anh trong trại cải tạo, vì không nghỉ phép được lâu nên phải đi về sớm ra Phước Bình đón chuyến xe đầu về thành phố.
Tên bộ đội gằn giọng trả lời:
-Thế à! Vậy anh đi cẩn thận xuống dốc đồi, kẻo bá vào chiếc xe tôi lật nằm dưới đấy nhé, đi đi .
Cũng may tên này không phải là vệ binh gác tù, tôi gần như thoát nạn, trả lời “vâng, cám ơn anh báo trước”, rồi tiếp tục xuống đồi, tôi nhìn thấy chiếc xe MotoLova nằm lật ngang bên lề bên phải, thì ra vì trận mưa lớn sáng hôm qua.

Tôi nhớ lại, cũng tại chỗ dốc này cách đây 2 năm, khi được chuyển tới khu vực này, chiếc xe chở đám tù chúng tôi cũng đã nhiều lần muốn lật ngang vì ngọn dốc quá cao, thêm vào là đường mưa trơn trợt. Thật hú hồn, nếu một trong 2 thằng trả lời không xuông xẻ, giờ này có lẽ không còn có dịp viết lại chuyến trốn trại tù.
Xuống tới chân đồi, trời gần sáng hẳn, đã thấy Niên chờ sẵn bên cạnh bìa rừng, rồi 2 thằng mò xuống con suối nhỏ gần đó để rửa sạch những dấu vết bám đày xình, đất đỏ trên quần áo. Tôi thay chiếc áo tay ngắn Kaki vàng cũ kỹ, chiếc áo này tôi lượm nó trong lúc làm vệ sinh dọn dẹp khi vừa chuyển tới trại Trảng Lớn cách đây 4 năm, mặc rất vừa vặn nên tôi giữ kỹ nó như một món đồ quí giá. Rửa tay chân sạch sẽ, chúng tôi trở ra đường, quan sát cái chòi gác của vệ binh bên này cầu Sông Bé, hai thằng nhìn thật kỹ, không thấy tên vê binh nào còn gác, vì trời đã sáng.

Đợi Niên đi một đoạn hơi xa độ chừng 200 mét, tôi bắt đầu nối gót theo sau. Khi tôi đến ngay vọng gác, thì lúc đó Niên đã nửa đoạn cầu.Nhìn xuống đáy cầu sâu thâm thẩm, không cách nào qua được nếu không liều lĩnh bước đi trên cầu. Lúc trời sáng, tôi càng sợ hơn, sợ khi phát giác chúng tôi trốn trại. Trung Đoàn cho vệ binh đuổi theo bằng xe Jeep để chận ngoài bến xe Phước Bình, hoặc thấy chúng tôi trên đường là bị bắt ngay. Tôi muốn chạy thật nhanh cho qua khỏi đọan cầu dài mấy trăm thước này, cũng ước gì nếu có phép thì tôi sẽ biến ngay cho khỏi chổ này, vừa đi vừa lầm thầm khấn nguyện.

Niên đã qua tới phía đầu bên kia, trong khi tôi mới nửa đoạn cầu, bước nhanh hơn nhưng không để lộ nỗi sợ hãi của mình, cũng may vì còn quá sớm không một chiếc xe nào qua lại lúc này .Qua xong cây cầu Sông Bé, lại đối diện với cái dốc cao, con dốc cong quẹo trước khi đến bến xe Phước Bình. Niên chui vào bìa rừng bên phải đợi.Tôi lên tới ngồi nghỉỉ một lác cho tỉnh, vì quá mệt.  Không dám nghỉ lâu, chừng năm ba phút rồi tiếp tục ra đường bước tiếp, chừng một đoạn không xa, dường như có tiếng xe từ phía cầu chạy lên tôi ra hiệu chạy nhanh vào góc mô bên trái có vài nhánh cây đủ che thân cho 2 thằng. Quả thật là may cho hai thằng, nếu xe này chạy trước nửa giờ, thi chúng tôi không biết phải đố phó ra sao? Trên xe có ba người, hai cán bộ và tài xế, xe chạy lên dốc rồi thẳng hướng PHƯỚC BÌNH.

Bọn tôi phóng ra đi tiếp, lên khỏi dốc núi thì con đường trở nên rộng hơn, đi hướng về bến xe Phước Bình, mắt nhắm, bụng đói, miệng khác nước, nhưng chân vẫn bước đi như chạy. Tới ngã ba đường đi Bù Đăng, Bù Đốp, cách bến xe Phước Bình vài trăm mét, nhìn thấy một đám bò vàng (danh từ của đám tù gọi bộ đội và CA) đứng đầy bến xe. Kế hoạch A không thể thực hiện được thì kế hoạch B thi hành, đoạn đường dài nguy hiểm hơn, qua Bù Đăng, Bù Đốp về Lộc Ninh, xuống Bình Long, rồi Bến Cát, Bình Dương, xong tới Saigon”.

Quá khát nước, mệt lả người, chân không ngừng bước, may thay có vài người Thượng vác gùi đi ngược đường, thấy vài khúc mía lau bên trong. Tôi móc túi ra chừng 5, 10$ gì đó rồi ra dấu muốn mua.Như thấy tôi mệt lả, một trong số người Thượng đứng lại đưa 2 khúc mia, lấy tiền rồi bỏ đi.Như được cứu tinh, vừa đi hai thằng cắn, xướt 2 khúc mía ngon lành gần như tỉnh hẳn lại, đường đi Bù Đốp trên 10Km.

Lang thang trên đường độ vài cây số, có tiếng xe lam từ sau chạy tới, quá mệt, tôi đứng lại đón xe, xin đi Bù Đốp, thấy trên xe lam đã có bốn, năm người. Xe dừng lại, Niên và tôi nhảy lên. Ngồi chưa nóng đít, một tóan du kích chận xe lại trên đường, xét giấy tờ. Hai thằng nhìn nhau tái mặt, nhưng cũng phải bình tĩnh.Tên du kích bắt đầu hỏi giấy tờ, Tôi ngồi ngoài bên trái, Niên bên phải. Du Kích hỏi tôi:
-Anh này cho tôi xem giấy tờ tùy thân.
Tôi lấy trong túi ra 1 thẻ công nhân của em tôi làm giả và 1 giấy phép được nghỉ 3 ngày.Tên du kích xem thẻ công nhân, rồi qua tới tờ giấy phép.Tôi thấy hình như tên này không biết chữ, cứ lật ngược, rồi lật xuôi, lật qua lật lại, rồi hắn nói:
-Thế giấy phép của anh hết hạn rồi, sao giờ này còn đây?

Tôi giật mình, thoáng nghĩ không lẽ mình ghi lộn ngày? Mới vưa điền vào khoảng trống chiều hôm qua trước khi vượt trại. Tôi bình tĩnh trả lời:
-Đâu anh coi kỹ lại xem, giấy phép tới hết ngày mai mà”
Du kích lật giấy qua lại vài lần nữa rồi gật đầu trả giấy lại cho tôi, rồi lần lượt hỏi giấy tới Niên. Khi nghe Niên nói giọng Huế, tôi nghe tên du kích hỏi Niên:
-Anh từ Huế vào à? Sao giấy đi đường là của quận Phú Nhuận?”
Niên trả lời, tôi không nhớ rõ như thế nào, cuối cùng hai thằng thoát nạn một lần nữa, tới được Bù Đốp. Vào trong chợ Bù Đốp, thấy gánh mì mừng quá ngồi xuống gọi 2 tô mì lớn, định ăn mỗi thằng một tô cho no nê rồi tính.
Đang ngồi chờ mì, tôi hỏi bà bán mì:
-Bác! Bác! Có xe nào từ đây tới chiều về Lộc Ninh không? “
Bả chỉ vào chiêc xe như chiếc “Dodge”, người bu như kiến trên đó và nói:
-Mỗi ngày chỉ có một chuyến thôi. Nếu không đi được phải chờ tới ngày mai.”

Hai thằng giật mình, vội vàng trả tiền 2 tô mì chưa ăn, chạy thẳng ra xe, bon chen, cố bám lấy sườn xe cho được. Giành giực với nhau một hồi, tôi bám được một chân đứng trên xe, một tay nắm vào cái thanh sắt trên mui xe, còn Niên hắn hay thiệt, chen lấn ngồi trên nóc mui xe. Hai thằng nhìn nhau như yên tâm vì  không đứa nào lọt lại nơi này đêm nay.
Xe bắt đầu chạy khoảng hơn 12 giờ trưa.Tới Lộc Ninh hơn một giờ.Không trạm kiểm soát nào.Về tới Lộc Ninh mua tạm bánh mì ăn lót bụng. Đi chung quá nguy hiểm, quyết định chia tay từ đây, tại Lộc Ninh tôi hỏi thăm dò, thì biết được từ Lộc Ninh về Bình Long có một trạm kiểm soát “Bò Vàng”. Từ Bình Long về Bình Dương có trạm kiểm soát lớn tại Bến Cát. Chia tay nhau mỗi thằng một ngả, hồn ai nấy giữ. Lang thang qua lại bến xe đò mấy lần thăm hỏi, muốn mua vé xe đò lúc này phải có giấy đi đường, tôi chỉ có giấy phép, không giấy đi đường, đành đi xe chuyền từng chặng.

Thế là tiếp tục lội bộ ra đường xe rồi tìm cách quá giang. Vài chiếc xe hàng chạy qua tôi đưa tay xin quá giang, cũng may có một chiếc xe ngừng lại. Tôi thấy trên đó 5, 7 tên bộ đội gì đó. Lúc đó không cách nào khác tôi chạy đến trèo lên xe, mới biết ra là đám bộ đội trẻ rủ nhau trốn đơn vị về Bình Long chơi, không khác gì mình ngày xưa, lúc ngoài chiến trường  Quảng Trị nhảy dù đi Huế.
Tôi bắt đầu trò chuyên làm quen, có đôi lúc hỏi dò trạm kiểm soát, nhưng không để lộ vẻ sợ hãi vì tôi là công nhân mà. Tôi làm bộ hỏi tên bộ đội:
-Mấy anh qua trạm kiểm soát có phải trình giấy phép không?”
Vài tên trong đám bộ đội nói:
-ĐM..sợ đếch gì bọn Công An áo vàng này.

Tôi biết được điểm này có thể dùng được lúc này. Gần tới Bình Long, đằng trước tất cả xuống xe từng người qua trạm kiểm soát trình giấy tờ. Xe hàng chở đám bộ đội và tôi cũng dừng lại, xuống xe đi bộ qua để trình giấy. Thấy toàn Công An, không có kiểm soát quân sự, cũng như trước đây Cảnh Sát mà không có Quân Cảnh làm sao lính sợ, nhanh trí tôi vội vàng kéo chiếc áo kaki xanh cất trong bị khoác vào, cộng thêm cái nón bo màu xanh giống như đám bộ đội, rồi chui vào cùng bước chung với đám bộ đội trẻ. Đi tới trạm, bọn bộ đội hiên ngang không vào lối kiểm soát, mà lại dòm mấy tên Công An cười, cười như thách thức bọn tao đi chơi làm gì nhau.Tôi cũng làm y chang như đám bộ đội không trình giấy tờ, cũng cười mà đi.Qua xong trạm này, thật hú hồn như có ơn phước, nhờ gặp phải đám bộ đội nghĩa vụ trẻ này.Về tới Binh Long độ 3 giờ chiều. Tôi xuống xe, ghé vào xe nước mía bên lề. Thấy ly nước mía lạnh, vì quá khát nước tôi nốc vào quá nhanh, toàn thân xây xẩm, mắt tối đen không đứng vững, tôi té quỵ trên đường.
Người bán nước chạy ra đỡ tôi đứng dậy và hỏi: -Cậu có sao không? Có sao không?
Tôi trả lời:
-Dạ cháu không sao, chỉ chóng mặt chút thôi, bác à cháu muốn về Binh Dương, giờ này có xe nào chạy không bác?”
Bà dòn dã trả lời:
-Quá 3 giờ thì làm gì có xe về Bình Dương, may ra cậu ra ngã ba Bình Long đón xe chở hàng.
Bằng mọi giá phải rời khỏi khu vực này ngay, vì hơn 4 năm cách ly thế giới bên ngoài thấy gì cũng hoài nghi và lo sợ.Tiếp tục cuốc bộ ra ngã ba Bình Long. Đón xe hàng với nổi buồn tuyệt vọng, tôi nghĩ hôm nay nếu không đón được xe về Bình Dương chắc là phải ngủ lại ngoài rừng. Trong túi còn 30 đồng, may ra đủ để trang trải tiền xe tới Saigon. Đang lang thang trong nỗi phập phòng lo sợ, thấy chiếc xe hàng lù lù từ phía xa, tôi vội vàng đưa tay ra đón, xe từ từ ngừng lại, tôi vội vàng ngỏ lời xin trả tiền quá giang. Thấy trên cabin chỉ có 2 người, cha làm tài xế, thằng con độ khoảng 13 theo phụ. Thằng con hỏi tôi, anh đi đâu? Tôi đáp TP HCM.Thằng nhỏ nói “không được, tôi chở anh tới Binh Dương thôi, 15 đồng “.Tôi cũng đồng ý, khi tới Binh Dương rồi tính tiếp.

Trả tiền xong, nhảy lên phía sau thùng xe, thấy một người đã ngồi trên đó, tuổi chạc ngang tôi, gật đầu chào rồi nhìn nhau yên lặng. Thấy một đống củi khô nằm chồng lên những bành cao su thật lớn.Xe chạy được một đoan khá dài. Thấy thằng con từ cabin chui vào trong thùng xe phía sau. Rồi ì ạch kéo những bành cao su,  thấy em nhỏ làm, tôi hiểu ý, kéo phụ những bành cao su lớn, sắp xếp củi lại bỏ dưới đáy, xong phủ lại lớp cao su. Xong rồi, em mở lời:
-Xe này là xe hàng quốc doanh cao su không được chở bất cứ gì khác.Ba em lén mua một số củi lậu về bán kiếm thêm. Dưới Bến Cát có tram kiểm soát lớn phải tim cách dấu đi. Em sẽ nói ba em chở anh về thành phố mà không lấy tiên thêm.
Nói xong, thằng nhỏ leo trở về phía trước, tôi thì mừng rỡ, nhưng khi ghe tới trạm kiểm soát lớn tôi như tái mặt, cũng phải bình tỉnh và phó thác cho định mệnh. Xe chạy thêm hơn nửa giờ, bổng nhiên chậm bớt tốc độ, tôi quay đầu nhìn ra phía trước thấy hơn nửa cây số xe đò, xe hàng, nối đuôi chờ qua tram kiểm soát. Xe chở hàng của tôi đang ngồi, khi chạy tơi chiếc xe cuối cùng đang nối đuôi chờ đợi, lại không ngừng, mà ra giửa lộ chầm chậm chạy thẳng tới trạm kiểm soát rồi dừng lại.

Thằng nhỏ nhanh giò nhảy xuống xe, mời tên công an lên xét. Thì ra đây là xe quốc doanh được quyền ưu tiên không phải chờ đợi như  những xe hàng tư nhân. Tên công an trèo lên thùng xe kiểm soát, hắn thấy tôi và người khách lạ trên xe, hắn nhìn thẳng vào tôi, nhưng không hỏi giấy tờ, phản ứng bình tĩnh, tôi mỉm cười lấy lệ. Thấy những bành cao su ngay hàng thẳng lối, không chút khả nghi, hắn bước xuống rồi gọi thằng nhỏ:“Mày chở khách lấy tiền phải không?”
Thằng nhỏ liền miệng:
-Không, không, thấy người đi bộ, cho có giang về nhà, chứ tiền bạc gì đâu, không tin chú hỏi đi.
Công An không tin lời thằng nhỏ nói:
-Tao biết cha con mày chở khách lấy tiền, nhưng tao tha cho lần này đấy nhé, đi đi.
Thằng nhỏ cũng cố cãi lại:
-Đâu có, đâu có”. Rồi nó phóng thẳng lên cabin ra hiệu cho ba nó giọt lẹ.

Trên xe tôi thở phào nhẹ nhỏm, thế là số tôi quá lớn, 4 lần đều gặp may thoát chết. Tới Binh Dương, người khách kia xuống xe, còn tôi được xe chở thẳng về cầu Bình Triệu. Tới Bình Triệu khoảng độ 7 giờ tối, xe cộ, người đi tấp nập. Như chim được sổ lổng, còn 15 đồng tôi đi bộ tới lui, không dám vào tiệm, sợ không đủ tiền. Thấy gánh cơm bên lề, tôi gọi một dĩa cơm thịt kho, hột vịt thêm vài miếng cải chua, kèm theo ly trà đá.Hơn bốn năm, chưa bao giờ có được bữa ăn ngon như vậy. Ngồi ăn, nhớ tới Niên, không biết bạn mình ra sao?Làm sao qua khỏi những trạm gác lớn này? Chúng tôi mất liên lạc với nhau từ đó..
Ăn xong, rồi đi về đâu? Nhà không dám về, vợ con đã vượt biên tới ÚC .Tôi nghỉ tới bà ngoại bên vợ đang ở cầu Gò Dưa, lội bộ tiếp cầu Gò Dưa đoạn đường này là chuyện nhỏ.Liên lạc lén lút với gia đình tôi kể từ đó. Sống lang thang nhà thân nhân, bạn bè mỗi chỗ  một, hai tuần, đi sớm, về trể hàng đêm. Sau vài tháng, quen cách sống bình dân, liên lạc được một số bạn bè cũ, biết được Phan Văn Đuông cũng lỳ đòn, trốn trại tù như tôi nên tìm nhau để dựa lưng vào nhau, có tình đồng đội thì dù tiền tuyến hay hậu phương, dù trong lòng địch thì chúng tôi vẫn thấy an tâm hơn.

Len lỏi sống qua ngày, Phan Văn Đuông thi bơm hộp quẹt ga ở chợ Sai Gòn, tôi vá xe đạp khu Hải Quân Công Xưởng, có lúc giúp em của Đuông ở quán bia hơi, khi bán ế, thì è nhau 3 thằng cụng ly say, xỉn, rồi mỗi người lại tìm đường sống trong cái chết, Đuông vươt biên thì tôi vượt biển, sau 3 lần mới thoát vào cuối tháng 10 năm 1980. Niên và tôi, hai thằng đều may mắn đến được bến bờ Tự Do vào thập niên 80. Sau này khi gặp lại nhau bên Mỹ, tôi hỏi Niên về việc đi qua 2 trạm gác thì mới biết Niên phải xuống xe, đi vòng qua trạm gác, thuê xe đạp xe ôm nên Niên về tới Saigon sau tôi một ngày. Ôi thôi cực khổ gian nguy, sau bao lần thoát chết trong chiến trường lại phải vào tù, từ trong tù tìm cái sống trong cái chết lúc vượt ngục, thoát ngục nhỏ thì tới nhà tù lớn nên lại phải tìm cái sống trong cái chết lúc vượt biên, nhưng nhờ ơn trên thương những thằng lính chiến trẻ người nhưng không non dạ nên chúng tôi được bình an, hít thở không khí tự do. Tuy vật lộn với cuộc sống, nhưng chúng tôi vẫn còn bên nhau để ôn kỳ niệm “đồng đội cũ, chiến trường xưa” và nhắc lại chuyện vượt ngục như một lời chào và hỏi thăm đến các Mũ Xanh, nhất là các anh 4/71+5/71, cho dù các anh ở bất cứ nơi đâu “Thiên Đàng, Niết Bàn hay địa ngục, kể cả địa ngục trần gian XHCN..



Th/úy Phạm Bá Niên hiện sống tại Quebec, Canada
Th/úy Trần Văn Khỏe, căn cứ “Evergreen” thung lũng hoa vàng San Jose, California.
Niên và tôi gặp lại nhau tại Hawaii ở Condo nhà tôi, nơi mà vợ chồng tôi dự trù sẽ hưu trí sau này. Ngày tháng năm trôi quá nhanh, thắm thoát đã 32 năm kể từ khi chúng tôi thoát khỏi cảnh lao tù cộng sản ngày 19-6-1979. 

Friday, June 15, 2012

Thủy Chung Độc Chiến Bào

Thủy chung độc chiến bào.
Quân hành tráng sĩ ca.
Lục thao giặc thù khiếp.
Chiến tích rạng sơn hà.


n471