Saturday, December 6, 2014

CHECK MAIL CHIỀU NAY.


"Nhìn chị Trang liêu xiêu vội vả quay về....."
Tao đọc mầy, tao biết mày viết những gì từ trái tim, mặc dầu mầy không nói hết những gì mày muốn nói, nhưng cũng đủ để tao đọc mà rung rung cảm xúc...
Châu Lát, tao copy lại email mầy đây. Tao muốn chia xẽ v
ới mọi người là, từ 75 cho đến bây giờ, coi như đã 40 năm, những thằng như bọn mình lửa vẫn còn nóng hỗi trong trái tim.
Mầy viết,
“Sáng nay đang nhâm nhi cafe với đám 471 SG thì chị Trang ghé, chị ghé nhưng chỉ đứng bên ngòai chờ Hiệp mà kg vô, chị ngại và chị kg muốn để Tuấn ở nhà 1 mình lâu.
Tao là thằng hay đía và ồn ào, nhưng như bị bà nhập, bổng buồn ngang.
Tao như thấy lại những sáng thứ 7 nơi khu Tiếp tân của Truờng hơn 40 năm truớc. Hồi đó, trong cả rừng Hoa của 471, hoa Trang của Tuấn rất nổi, làm bao đứa ngoái nhìn, kẻ đủ đôi lẩn kẻ mồ côi; kể cũng đúng thôi, vì chủ bông hoa đó cũng bảnh hơn nguời, cao ráo đẹp trai phong độ... thời khắc đó dù giàu óc tuởng tuợng đến đâu cũng kg ai hình dung đuợc điều xảy đến cho cặp đẹp đôi này trong chưa đầy 1 năm sau...
Và sáng nay, nguời truớc mặt tao là 1 nguời đàn bà luống tuổi khắc khổ đầy cam chịu, kg giống chút nào với cô gái ngày xưa mổi sáng thứ 7 ở Khu Tiếp tân...cái gì đã tạo nên sự khác biệt đáng sợ này..và tại sao??
Hình như hôm qua có ai đã nhắc đến những bà xả của đám 471và hôm nay, ngay sáng nay tao đã thầm cảm ơn; muôn lần cảm ơn Đấng Quyền năng nào đó từ trên kia đã ban cho đám 471 những bà vợ tuyệt vời, trên cả tuyệt vời, hơn cả tuyệt vời.
Riêng bạn Tuấn của tụi mình, sự lận đận khó hiểu cứ mải đeo đẳng nó. Sau nhiều lần giới thiệu, liên lạc qua lại, Tuấn đã đuợc nhóm Thiện nguyện hứa xúc tiến việc thay khớp, tuởng chừng sẻ mau chóng đuợc chửa trị phần nào 1 trong cả đống bệnh của nó; ai dè phải hoản lại vì nó nhiều bệnh quá, nào tim nào đái đuờng, nào mục xuơng...liên quan chằng chịch cái này làm khó cái kia...Sao kg chia bớt cho thiên hạ, cho những thằng chó đẻ ăn hại đái nát, những thằng bán nuớc buôn dân, những thằng hút máu cạp xuơng ăn kg bao giờ no kia..mà cứ mải ôm mọi tai uơng vào 1 mình. Sao vậy hả bạn ơi!!
Nhìn chị Trang liêu xiêu vội vả quay về...”
Châu Lát,
Tao viết thêm vài dòng về Tuấn để bà con mình rõ. Ra trường Tuấn về Nhảy Dù, trong một trận đánh Tuấn bị thương và mù cả hai mắt. Trang, vợ Tuấn, hoa khôi ngày xưa của Khu Tiếp Tân Trường Bộ Binh Thủ Đức, đã dìu Tuấn, hai người bên nhau cho đến bây giờ…
 
Tuấn Mù mang kiếng.




PHẠM GIA THỤY - KẺ SANG SÔNG BỊ THẦN CHẾT CHỐl TỪ.


Nếu tao có khả năng viết như thằng Lê Bình hay như Trần Long Yên Cốc Chủ, hay như thằng Châu Lác viết ít mà đọc nghe nhức mình, thì chắc một điều là tao sẽ viết về từng thằng 471 An Lộc và nói với Hoa Lan Công Tử và Ngân Méo bỏ vào cái web của tụi mình cho thật trang trong. Bạn ta giống ta tuy mỗi người mỗi tánh, bạn ta hơn ta tại sao ta phải tị hiềm.
Hôm nay đi thăm bạn về, bổng dưng tao nhớ tới mầy Phạm Gia Thụy. Tao nhớ rõ lắm…
Tại căn cứ La Sơn của Sư Đoàn 1, ngày tụi mình gảy súng, nói theo kiểu CXH, mầy đội cái nón bo đi rừng và tóc dài phủ gáy. Là lính, mà là lính thứ dữ, Viễn Thám TQLC, nhưng nước da trắng như con gái, ria mép xanh lơ…dành nón bo kéo xuống che hố mắt trũng sâu chứa cả một trời hận thù và buồn bả…Nhưng mầy vẫn đẹp trong mắt tao, ngày ấy tao nghĩ rằng:
-Thằng Thụy đẹp quá, về Sông Hương, Gia Hội, đò nào mà không mê.
Thụy ơi,
Bạn mình còn đó, Lê Văn Canh đang ở Seattle, cái thằng đưa mầy sang sông cái đêm ấy. Canh đưa mầy sang sông Thạch Hãn, thằng Canh biết mầy đi là chết, nhưng biết nói gì hơn. Chiến tranh nó không có chỗ cho những ũy mị thường tình. Khi ấy tao đang nằm ở sát bờ sông gần khu Chợ Sãi Triệu Phong mà đón xác Viễn Thám trôi về…
Nhưng mà mày không chết mà trở về trọn vẹn. Mầy nhớ Phan Văn Đuông, Tiểu Đoàn 5 TQLC, kẻ sống sót của Sông Bồ, đã gặp Nguyễn Ngọc Tốt của Tiểu Đoàn 3 TQLC đưa cho bịch gạo sấy cầm hơi để mà Đuông có sức lội tiếp.
Mầy nhớ Châu Lát không? Cũng Viễn Thám với mày. Tao còn nhớ rõ, đến giờ phút thứ 25 mà vẫn kéo 106 ly dưới cơn mưa tầm tả để chận T54…cũng tại căn cứ này tao đãi nó bửa thịt chồn mà gần nữa thế kỷ sau nó còn nhắc. Cũng tại căn cứ này, tao và nó nhìn 130 ly dập nát kho đạn Lữ Đoàn 147 của tụi mình mà nghe như nát gan nát ruột…
Nhưng mà tụi mình không chết, tù đày cũng không chết. Tụi nó đã móc mắt mầy bằng muổng inox không thuốc tê, mầy không chết. Thì bây giờ, không có lý do gì mày đòi trở lại để chết trên quên hương.
Quê hương tụi mình là ở đây, ở đây có bạn bè, ở đây có tình nghĩa 471 An Lộc. Và mọi ưu phiền nó cũng giống như dòng nước trôi qua Thụy à. Hãy nghĩ đến bạn bè và mượn đó làm niềm tin. 
Email mầy viết: Tụi mày giúp tao. Nghe sao mà đau quá vậy Thụy!
Mặc dầu mọi thằng ở mỗi chỗ, nhưng mầy nhớ rằng tụi tao vẫn nhớ về mầy, Phạm Gia Thụy Viễn Thám TQLC, kẻ sang sông bị thần chết chối từ…


Phạm Gia Thụy Viễn Thám TQLC

Tuesday, June 25, 2013

CHỮ BẠN TRONG TÌNH NGHĨA GIANG HỒ.

Hiền huynh An Lộc,
Chỉ còn một tháng nữa thì bọn mình sẽ gặp nhau nơi đất Bốt. Vùng đất mà người Mỹ hãnh diện gọi đó là cái nôi văn hóa của xứ Kỳ Hoa. Thật ra tại hạ không đủ trình độ cũng như ngôn ngữ đễ diễn tả cái cảm xúc lâng lâng trong trái tim già nua của mình, trái tim già nua nhưng chắc một điều là nó vẫn còn rộn ràng khi thấy…rượu và gái đẹp. Không biết quý hiền huynh chuyện ấy thì thế nào?

Tại hạ đọc truyện kiếm hiệp cũng khá nhiều, nhưng không thấy bất kỳ một nhân vật chánh nào được tác giả xây dựng trên nền tản của sự kiêu ngạo. Khí phách thì đầy rẫy nhưng không bao giờ kiêu ngạo. Nhưng cái chết người là, giữa cái khí phách và sự kiêu ngạo chỉ là một ranh giới mỏng manh mà kẻ có tâm thì không bao giờ muốn vượt qua cái đường biên ấy.

Trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, Nhạc Bất Quần có 4 đệ tử nam.
Lệnh Hồ Xung
Lao Đức Nặc
Lục Đại Hữu
Lâm Bình Chi
Đó là huynh đệ cùng môn phái Hoa Sơn. Nhưng số phận thì khác nhau, vì mục đích của mỗi người khác nhau. Lệnh Hồ Xung, kẻ lãng tử, không ham danh lợi. Lao Đức Nặc kẻ nội tuyến đáng sợ, ăn cơm Nhạc Bất Quần mà thờ Tả Lãnh Thiền. Một Lục Đại Hữu thật thà của đời thường. Một Lâm Bình Chi đã trở thành cuồn tính trong mối thù phải trả cho gia tộc.
Đó là đồng môn huynh đệ. Lệnh Hồ xung không giết Lâm Bình Chi vì lời hứa với Nhạc Linh San, nhưng nhốt Lâm dưới đáy hồ, nơi mà ngày xưa Nhậm Ngã Hành bị nhốt. Lệnh Hồ Xung không cần giết Lao Đức Nặc, chuyện này Doanh Doanh đã thu xếp. Lục Đại Hữu chỉ là nét chấm phá trong bức tranh thủy mạc.

Từ đó, tại hạ có một kết luận chung là, đồng môn nhưng phải cùng chung một hướng nhìn thì mới tồn tại lâu dài.
Từ ngày tụi mình có cái diễn đàn 471, hàng đêm khi bất chợt thấy một tấm hình của bạn bè, nhất là bạn bè còn ở trong nước, dầu còn nhớ hay không còn nhớ, nhưng thú thật tao vẫn rưng rưng và hãnh diện quá. Chiến tranh tụi mình không chết, tù đày tụi mình không chết, thế mà 40 năm sau lại còn có cơ hội gặp nhau như thế này. Khi nhìn thấy những lần anh em mình đi phúng điếu với dòng chữ: Cựu SVSQ Khóa 471An Lộc ….trên vòng hoa chia buồn, mắt tao đã ươn ướt. Vì sao, đó là khí phách còn lại của tụi mình, của những thằng còn ở lại trong nước, nó nói với mọi người và chắc chắn rằng có những thằng công an đã thấy cái này, chúng nó có ghét nhưng trong tim chúng phải có sự khâm phục….. “À, sao tụi “Ngụy” nó thâm tình quá!”
Thú thật, tại hạ xin làm con ngựa già kéo cổ xe chở những 471, chở những thằng bạn hèn này rong chơi cuối trời quên lãng, vì một lý do đơn giản là, BẠN TA có một tấm lòng.


Người Mỹ có câu:
Standing alone is better than standing with someone who hurts you. Với vốn tiếng Anh đi chợ của mình,  tại hạ xin được dịch là, “Thà là ta đứng một mình còn tốt hơn là ta đứng với ai đó mà người đó làm ta đau” hay giang hồ một chút thì…. “Đụ mẹ, tao nhậu một mình, tao đéo nhậu với mầy. Mầy là thằng cà chớn! Đi chỗ khác.”
Quý hiền huynh hiểu dùm cho tại hạ dùng chữ không khéo này, và nhất là quý giai nhân của 471tha thứ cho đệ. Khi viết tới đó, tự dưng tao bị sốc.

Cái chung của tụi mình là sự đùm bọc, là tìm vui một chút trong tuổi xế chiều. Tụi mình đã cố gắng làm những điều nhỏ có thể làm được, mà trước mắt là giúp đở nhau trong cơn khốn. Việc này chúng ta đã làm thật tốt trong thời gian qua. Bạn mình trong nước đã thực hiện việc cứu bồ thật là hoàn hảo.
Tụi mình nghĩ xem, nều chúng ta đi travel trên nước Mỹ này, hoặc Canada, hoặc Úc, chỉ cần một cú phone, hoặc một email, sẽ có bạn ta đón…nhậu.
Nếu có về thăm gia đình ở VN, thì độ nhậu sẽ vui như là tiệc cưới. (Tại hạ chỉ nói chữ TÌNH trong chữ BẠN, chứ không, có kẻ bảo tại hạ không biết….. “…Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa.” Thì khổ cho con ngựa già này lắm.

Viết tới đây mệt quá, quý hiền huynh đọc vui đở buồn. Từ từ viết tiếp.








Monday, June 24, 2013

BÀI THƠ KHÔNG ĐOẠN KẾT


Tôi chưa một lần gặp mặt các anh.
Nhưng tôi biết rằng các anh đã đổ máu và bỏ lại một phần thân thể.
Để bảo vệ miền Nam yêu quý.
Viết bài thơ này không phải để ca ngợi.
Mà tôi trong tư thế NGHIÊM với tay phải đang CHÀO.
Các ANH Người Thương Binh của QLVNCH.
Còn gì đẹp hơn trong những ngày mất nước.
Các anh gom về thăm viếng đệ huynh .
Bạn bè ta ơi, mồ ai rêu phũ.
Thắp nén nhang... nghe tiếng súng vọng về.
Nghĩa trang ơi, chiều nay như chiến trận.
Tao với mày chia lửa lúc xung phong.
Bịch cơm sấy trao tay để ấm lòng.
Thu chiến tích, chiều hành quân chợt tối.
Bọn tao đứng đây ngay hàng thẳng lối.
Như điều quân Cơ Bản Thao Diễn ngày nào.
Ánh mắt tao rực rỡ cả trời sao.
-Alpha làm chuẩn. Đại Đội 4 hàng ngang, nhìn trái...Thẳng!
Tay tự động đưa lên vành nón cũ.
Khúc xương lồi bổng chạm nhẹ vành môi.
Tao chợt tỉnh mình cụt tay mất rồi...
Hình bóng cũ mồ hoang dường máu lệ.



Xin được gởi chữ KÍNH đến các anh, Người Thương Binh VNCH.

BOSTON HIỀN HỮU ĐÁO

Bạn, 

Ngày xưa đọc tiểu thuyết, xem cải lương, tụi mình thường thấy tác giả viết như thế này, "Hai mươi năm sau..."
Tụi mình cười và nói:
-Đúng là cải lương tiểu thuyết!
Thế mà bây giờ, đã hơn 40 năm rồi còn gì. Nói theo ngôn từ của lịch sử, thì gần nửa thế kỷ...
Tụi mình không thể lý giải hết cái chữ DUYÊN nằm trong trong chữ NGHIỆP, thôi thì cứ để dòng sông của hội ngộ hợp tan tan hợp.
Chỉ vài ngày nữa thôi, bọn mình sẽ tữu phùng...

Hoa Đào nở gặp nhau lần nhất.
Đỉnh Nghinh Phong đối ẩm kỳ hai. 
Atlanta đêm ngắn tình dài.
Luận kiếm kỳ ba Giai Nhân và Tráng Sĩ!
Nam Cali rượu nồng như khói súng.
Bốn mươi năm Một Thời Chinh Chiến xé nát ước mơ nào.
Nhưng gặp nhau lần bốn không hỗ thẹn với trăng sao.
Hề chinh chiến nhiều người đi, nhiều trở lại.


Bạn Đồng Môn 471


" Thiên Bôi Thiểu Kỳ Năm"
Tữu phùng tri kỹ như thầm gọi nhau.
Boston hiền hữu đáo.
Đất trời như nỡ hoa.


Trần Trung Ngôn 344


Đồng môn cùng màu áo trận



Tuesday, March 12, 2013

Bài thơ tặng BẠN


Boston hiền hữu,

Tại hạ và phu nhân sẽ về Boston để có dịp gặp lại bạn bè. Trong lòng nghe lâng lâng quá. Chỉ còn hai tháng nữa thôi là bọn mình râm ran bên tách cà phê, bên ly rượu. Trời ơi đã làm sao! Cũng những khuôn mặt đó, cũng những câu chuyện cũ đó, mà sao nói hoài không hết.... 


Bài thơ tặng BẠN.


Tao trấn thủ Thạch Hãn.
Mầy dẫm nát Tây Nguyên
Thằng lội sình vùng Bốn.
Đứa xuôi ngược vùng Ba.

Pháo trên đầu nổ chụp.
Tiếng bạn bè thân quen.
-  Đạn đi mầy nghe rõ?
-  Kéo lại gần 50. Chơi trăm tràng hiệu quả.
Thằng đệ tử reo vang.
-  OK quá ông thầy!

Lũ đặc công bám vào,
Hàng tre gai trước mặt.
Lính tao đổ máu nhiều
ĐM cái hàng tre.
Chiều nay mầy lên tuyến.
Ngang tàng trên chiến xa.
Tao mừng vui đón bạn.
Chỉ mày cái hàng tre.
Mày nhếch môi khẽ nói.
-  ĐM để đó tao. Đại liên 50 này. Lo cho mày chuyện đó.
Ca cà phê sữa đậm.
Trao tay nhau từng hớp.
Capstan khói thơm lừng.
Tao với mày không nói.
Nhưng mắt buồn rưng rưng!

Tao đổi tuyến cho mày.
Gặp nhau mày chỉ nói.
-  Chuột thường mò bên trái. Để ý nó nhen mày. 
Chia tay nhau lần đó.
Mày ra đi mất biệt.

12 tiếng phép về Sông Hương.
Phố xá người đông chật phố phường.
Ghé qua kios mua tờ báo.
Để biết phân ưu của chiến trường.

Trần Trung Ngôn 15-2-2013

Saturday, November 24, 2012

EVERY CLOUD HAS A SILVER LINING

LAO TÙ VÀ VƯỢT NGỤC

Hắc Long Trần Văn Khỏe


PHẦN KẾT - TỰ DO ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM.


Đã hơn 32 năm rồi kể từ mùa thu 1980, tiềm thức tôi không sao xóa được cuộc hành trình vượt biển, cứ mỗi lần tôi đi du lịch trên những chiếc tàu (Cruise) thật lớn nhìn biển nước bao la, là hình ảnh vượt biên sống lại trong đầu, nhớ từng chi tiết, tưng địa danh, từng đoạn đường, nhớ từng cơn sóng lớn đưa lên cao rồi đập xuống hãi hùng lẫn trong tiếng kêu gào, van xin khấn nguyện , có lúc sóng đập thật mạnh làm nước tràn vào gần ngập máy ghe, rồi mấy thằng em thay phiên tát nước, những hình ảnh đó làm tôi không sao quên được. Mông lung tôi nhìn mây đen lo sợ, đưa tay đo sức gió để đoán sóng cho tàu, mà quên rằng tôi đang đi trên con tàu mới hiện đại chưa đầy 3 tuổi (Oasis of the Sea), lẩm cẩm nghĩ thật buồn cười cho đời người khi bước vào thời kỳ của lứa tuổi 60 mươi. Nhưng có lẽ niềm suy tư lo lắng đó đã thấm sâu trong tiềm thức và sẽ theo tôi cho đến ngày tháng cuối cùng.

Giửa tháng 5, 1980 tôi trở lại SaiGon, mới vở lẽ lòng người chủ ghe tham lam nên chuyến vượt biên thứ hai của tôi thất bại. Tôi bỏ nghề vá bánh xe đạp, long nhong tối ngày hết thằng bạn này rồi phóng tới thằng kia. Đuông và tôi gặp nhau rất thường, bửa nào anh trúng mánh thì 2 thằng no nê ăn uống. Có lúc đói quá ghé ngã sáu Gia Long xin tiền thằng đàn em Lê viễn Hồng K4/72 tiêu xài đở vã. Hồng cũng là mũ xanh trong binh chủng, khi ra trường về TD5 theo tôi mấy tháng. Sau này chuyển qua Biệt Đội Sóng Thần lúc đơn vị mới vừa thành lập. Thằng đàn em lúc này rất giỏi, chuyên môn mua bán hải bàn, ngồi vài tiếng là tiền vô như nước. Tôi nhớ có lần Hồng chở tôi đi giao cái hải bàn PCF, đặt chính giửa yên xe chổ 2 thằng ngồi, chạy qua đoạn đường Phan Thanh Giản khi gần tới trường Văn Học, bị nút chặn của một nhóm công an trước mặt. Tôi vừa nói “bò vàng nó chận”. Hồng nhanh mắt, lẹ chân chống xuống đất quay đầu xe 180 độ, rồi ngược chiều chạy trên lề bên trái, tiếng AK nổ dòn về phía chúng tôi. Như không để ý Hồng cứ phóng, trên chiếc Honda 65 màu đỏ, xoáy nòng cylinder 90 phân khối chạy lạng qua, lạng lại xen kẻ với đám thường dân đi bộ khiến công an ngần ngại không bắn thẳng vào. Tôi bảo nhỏ coi chừng bị bắn xâu táo, rồi hai thằng cười ha hả.., cứ chạy tìm ngõ hẻm quẹo vô. Vừa thấy được hẻm nhỏ bên trái, hai thẳng mừng hết lớn, chui xe chạy vào rồi lòn ngõ khác đi ra. Giao xong cái hải bàn hai thằng thở phào nhẹ nhõm. 

Vắng đâu vài tuần, khoảng vào cuối tháng sáu 1980, tôi không gặp Phan Văn Đuông nên chạy đến chỗ quán bia hơi của em Đuông để hỏi thăm bạn mình,mới biết ra Đuông đã có mối đi vượt biên, cũng bi bể nên bị bắt giam đâu dưới khu vực Cần Thơ. Kể từ đó chúng tôi mất liên lạc, tôi trở về nhà bạn thằng em tôi tá túc. Gia đình này là giòng họ “Khúc” anh em họ hàng với bà “Khúc Thị Minh Thư”, bác rất hiểu hoàn cảnh của tôi nên bằng lòng cho tôi ở tạm. Nhà có tiền nhưng bác cũng đông con,vàđã đưa vượt biên thoát được 2 đứa,sáu đứa còn lại, thì chia hai đi làm 2 đợt. Tôi nghe bà nói đã đóng tiền chổ khác cho 3 đứa đi tiếp tục.Lúc đó tôi định hỏi mượn tiền của Hồng đi tiếp, nhưng quá ngại vì chuyến vượt biển vừa rồi tôi đã bị mất trắng 2 cây vàng.

Ngày tháng trôi qua thật nhanh, đã tới lúc 3 thằng em trong nhà khăn gói ra đi, lúc đó chừng đâu tháng 8, 1980.Nhìn tụi nó tôi thèm được đi trong chuyến, và em trai tôi cũng buồn vì sắp mất đi người bạn tốt.Nhưng tôi luôn cầu nguyện cho mấy thằng em đi được. Sáng ra, 3 đứa lớn được bà mẹ dẫn đi về vùng bốn, chỉđược độ vài hôm tôi thấy cả đám lại quay về.
-Bể nửa rồi hả bác? tôi hỏi:
-Không có nhưng coi như đã bể, tài công không tới và làm eo đòi thêm 8 lượng vàng và tổng số 10 người.
-Thuyền trưởng Hải Quân hả bác?
-Không, chỉ là HSQ Tr/sĩ Nhất nói là lái tàu rất giỏi. Rồi bà bác hỏi tôi:
-Vậy con lái ghe được không? Biết coi cái cục “hải bàn” gì đó không? Nếu biết lái ghe bác sẽ tìm mọi cách nói để cho con được làm tài công trong kỳ đánh bãi tới. Có thể bác sẽ nói con là HQ vừa trốn trại.
Tôi mừng quá, trã lời “dạ con lái được, hướng đi bác khỏi lo con rành lắm.” Tôi nghỉ bụng ngày xưa tôi chấm điểm gọi pháo binh bắn hàng ngày còn được, mà  phải chấm đúng điểm, huống chi bây giờ cả một bờ biển Thái dài hàng ngàn cây số mà chấm không trúng một điểm thì coi như… đi chết đi.
-Vậy thôi được rồi, ngày mai bác đi sớm về Long xuyên gặp ông tám nói về chuyến này cho cháu và đòi thêm cho cháu dẫn được 2 người.

Thấy đôi mắt tôi mừng muốn khóc, tôi cảm động thương bà vì bà dám giao mạng sống cã ba đứa con mình cho tôi, một tài công “dỏm”  bác nói tiếp, và coi tôi con như con ruột, vì tôi cùng tuổi với đứa con đầu lòng của bác. Đêm hôm đó tôi chẳng chợp mắt tí nào trên căn gác nhỏ phía sau nhà của bác. Suy nghỉ mãi, rồi tôi lo sợ ra ngoài gặp sóng lớn, mong trời sáng để đi vào nhà Diệp Phi Hùng tìm anh Sơn học hỏi tiếp. Tờ mờ sáng tôi thấy bà đã dậy đón Honda ôm ra bến xe về Long Xuyên thật sớm. Còn tôi cã buổi sáng đó, anh Sơn nói tôi nên ôn lại hết những cái gì anh đã dạy, từ phao nổi ngoài khơi cửa biển, đến những lá cờ các nước tôi phải nhớ thuộc lòng, rồi hướng đi theo kiểu chử Z, bẻ góc độ thế nào để cuối cùng ghe chạy theo hướng tây 270 độ, vào thẳng bờ biển Thái Lan. Ngày hôm sau đó, tôi buâng khuâng chờ bà về để biết kết quả của chủ ghe đồng ý hay từ chối về những điều bác đòi hỏi. Tới chiều tối, nghe tiếng xe Honda ôm ngừng trước cửa. Bà bước vào trong với vẻ mặt vui tươi.
-Chủ ghe bằng lòng cho con làm tài công không bác? tôi hỏi
-Nghe bác nói con là HQ mà trốn trại về tìm đường vượt biển là ông tám đổ bãi và chủ ghe mừng hết lớn vì con đòi hỏi đi thêm chỉ có 2 người, nên họ đồng ý liền và muốn gặp con vào thứ bảy tuần tới,bác sẽ dẫn con đi về Long Xuyên để cùng gặp mặt.

Tôi mừng quá ôm chầm lấy bác, với thật nhiều lời lẽ cám ơn không diễn tã nổi lúc này, trong lòng tôi xúc động, làm sao tôi được cơ hội như vầy, dẩu biết rằng đường vượt biển với trăm ngàn cái khó. Suốt một tuần lễ chờ đợi ngày đêm dài đăng đẳng, tôi ôn hết lại những gì trong hiểu biết. Tuần sau, sáng sớm Bác và tôi đón xe đò về Long Xuyên để gặp ông tám, người đổ bãi cũng là người quyết đinh ngày đi. Trên đường đi tôi cũng phập phòng lo sợ, nhưng tôi nghỉ là tôi sẽ làm được. Xe ngừng ngoài lộ cách xa nhà ông tám, theo ngỏ hẻm cong quẹo củađường vào nhà ông tám, khi vào rồi chưa chắc gì tôi biết lối ra. Gặp được ông tám lòng tôi bớt hồi hợp, nhìn ông tôi thấy vẽ người hiền hòa phúc hậu.Vừa nói chuyện, ông dẫn tôi vào trong buồng đưa tôi coi chiếc hải bàn với tấm hải đồ ông đang giữ, sẽ giao cho tôi trong chuyến đi này.Tấm hải đồ 1/100,000 của vùng bờ biển Hà Tiên và chiếc hải bàn nhỏ bằng cái chén hiệu gì tôi quên mất. Nhìn tôi biết đây là đồ loại giã, mới cầm lên cây kim chỉ Nam Bắc đã quay lòng vòng, bọt nước đầy trong đó, tôi bảo ông tám trao cho tôi đem về Saigon cho bạn sửa lại, ông cũng hoàn toàn đồng ý với tôi. Hôm sau tôi và bác đem hải bàn về Saigon sửa chửa, xém một chút tôi bị bắt trên xe đò vì công an lên xe lục soát.

Về tới Saigon, Hồng nhìn cái hải bàn cười ngất “Đã đồ dỏm thì có bọt nước hay không gì cũng giống nhau thôi, rồi Hồng lấy ống chích chứa dầu hôi bơm vào cho hết bọt” lúc đó tôi mới nghỉ đúng là mình ngu thiệt. Vài hôm sau, bác và tôi ôm cái hải bàn trở lại Long xuyên.Ông tám muốn thử tài nên cho tôi lái chiếc ghe nhỏ của ông, từ Long Xuyên qua núi Sập đến ngã ba Tham Lương rồi tới chợ Hà Tiên. Cầm tay lái ông chỉ đường tôi đi ngọt xớt, cũng may ghe ông tám nhỏ hơn chiếc ghe tôi lái trước kia nhiều nên không gì trở ngại, và ông cũng chỉ rỏ cho tôi chỗ nào ông đổ bãi, ghe lớn đậu chỗ nào, rồi ông sẽ bốc khách ra sao. Ghé chợ Hà Tiên neo ghe rồi đưa tôi lên núi, tôi hỏi ông tám rằng mình đi đâu lên núi Hà tiên.
Ông trả lời “Xin xâm, cầu nguyện và cũng coi tuổi tôi có hợp với chuyến đi này”. Lên tới đỉnh tôi thấy một ngôi chùa nhỏ, vào bên trong có vài tượng Phật Di Đà bên cánh trái là Quan Công, Quan Đế, bên phải có tượng Phật Bà. Tôi đốt nhang rồi quỳ khấn nguyện, xin cho con đi thoát khỏi chốn khổ này, tôi cũng lấy bó xâm đưa lên lắc, được it lâu thì có một cọng quẻ văng ra, tôi cầm lấy nó đưa cho ông tám đem ra ngoài có ông sư ngồi giải nghĩa. Tôi nghe nói tuổi tôi với quẻ này là quá tốt.“Rồng gặp nước làm sao ngăn cản được”.Tôi thấy nét mặt ông tám vui thấy rỏ, trong lần trước anh tài công bóc nhầm xâm hạ, quẻ giải ra thật xấu vô cùng.Ông vui vẽ bảo tôi thôi mình về đi cháu.

Xuống tới chợ Hà Tiên ông chỉ cửa biển ghe ra, và cho biết tình hình giờ giới nghiêm tuyệt đối, 9 giờ đêm là không một tiếng máy nổ của ghe nào. Chính giữa sông là rạn đáy giăng đầy, bên này chợ là hàng trăm ghe Quốc Doanh đánh cá, bên kia sông là vọng gác công an. Ông hỏi:
-Nếu theo cháu, thì ghe nên lái hướng bên nào,tôi quan sát kỷ rồi trã lời cho ông tám.
-Chính giữa sông không nên đi là tuyệt đối, rạn đáy giăng đày không có lối ra, còn bên này sông có hàng trăm cập mắt, bên kia sông công an vọng gác chỉ có một hai người. Như vậy cháu chọn lái ghe chạy về hướng đồn công an bên đó. Ông tám dòm tôi ngật đầu đồng ý, cháu là tài công thì hoàn toàn quyết định nhưng phải lái tới đó trước giờ yên tỉnh.

Bàn tính xong, ông tám và tôi ra ghe trở về Long xuyên, ghé ngang ngã ba Thâm Lương gặp ông hai để đinh ngày đổ bãi. Cũng may ghe ông hai vừa tới đó một vài giờ. Nhìn chiếc ghe Chà Dôm võ ngoài độ chừng 10 mét, vào trong ghe tôi dòm thấy máy biết ngay là máy xe hơi chế biến, trên Saigon khách đi vượt biên thường hay hỏi “Yama đầu bạc hay loại máy Gray” thấy tôi suy tư ông hai hỏi “cậu có sợ lấy ghe sông đi biển không”
Tôi trả lời:
-Ghe nhỏ nào ra tới biển gặp sóng lớn cũng giống nhau thôi, có ghe đi là con vui rồi bác ạ.
Ông hai nói tiếp:
-Tôi là thợ máy, chiếc máy Mercedes đời 61 tôi mới mua sửa lại chạy được hơn 6 tháng nay, chạy rất tốt, đồ phụ tùng, đồ nghề tôi mua thủ sẳn đầy đủ cậu đừng lo. Bàn thảo một lúc, rồi ông tám nói tôi vừa xin xâm rất tốt. Ông hai càng vui khi nghe được tin này, rồi ông gọi 2 thằng con đang tấm dưới sông lên nhổ neo cho tôi chạy thử, thằng lớn tên Lộc lên đề máy ghe, đạp “Âm brê gia” rồi sang số, tôi lui ghe chạy thử mấy vòng, lái ghe lớn trước, bây giờ ghe nhỏ thì tôi chạy thật dể dàng, chỉ ngại rằng ngoài kia sóng lớn. Nhưng tôi nghỉ con người có số, đời người ai không chết, tôi thoát bao nhiêu trận rồi giờ có chết cũng chẳng sao. Hơn nửa, trước kia giao mạng tôi cho người khác lái, còn giờ đây tôi quyết định hoàn toàn, nên tin tưởng số tôi còn may mắn. Kế hoạch ông tám và ông hai bàn thảo xong, định ngày cuối tháng, 30-10-1980 là đỗ bãi.Ông tám và tôi từ giả ông hai hẹn ngày tái ngộ. Về tới Long Xuyên khoảng đô 8-9 giờ đêm, ngủ lại một đêm ở nhà ông tám, rồi sáng hôm sau hai bác cháu tôi trở lại Saigon.

Suốt hai tuần lễ, tôi nhờ má vợ tôi liên lạc với người bạn đã cho tôi vay nợ, để dẫn đứa cháu đi trừ nợ hai cây vàng, khi biết ra thì đứa cháu kia đã vượt biên đang bị bắt, cuối cùng khi tới ngày đỗ bãi tôi có một em trai cộng thêm thằng em thứ tư trong nhà tôi đang ở.
Ngày đỗ quân 6 anh em cùng trong nhà chia ra làm 3 cánh. Tôi đi một mình xuống Long Xuyên để đi cùng ông tám, còn lại 5 chia ra hai cánh xuống Rạch Giá để qua ngã ba Tham Lương, đúng hẹn 5 giờ chiều thì ông tám sẽ đón đưa ra ghe lớn. Tôi dặn dò kỷ lưởng nếu có đụng trận (bể bãi) thì hồn đứa nào nấy giử, rồi tìm mọi cách trở về nhà.
Tôi và ông tám từ Long Xuyên ra tới ngã ba Thâm Lương gặp ghe ông hai tại điểm hẹn, cách ngã 3 chừng vài trăm mét, thả tôi lên ghe lúc khoảng 3 giờ chiều, rồi trở lại đón người đưa ra điểm bốc cách chợ Hà Tiên chừng một hai cây số. Tôi ra ngoài ghe ngồi chờ 3 chiếc ghe nhỏ chay ngang qua, nếu đếm đủ số thì tôi nhổ neo xuất phát. Giây phút chờ đã qua 5 giờ hơn tôi thấy chiếc cá nhỏ (ghe nhỏ) chạy tà tà qua chổ tôi rồi đi thẳng, năm mười phút sau tới con cá thứ hai rồi thứ ba liền sau đó. Tôi, ông hai và hai thằng con nhổ neo xuất phát, đoạn đường đi từ ngã ba Thâm Lương ra Hà Tiên tôi không nhớ rỏ chừng bao nhiêu cây số, ghe tôi lái chậm tà tà chờ trời sụp tối để vừa đến chổ bốc người.

Tới điểm hẹn đúng lúc trời vừa tối hẳn, tôi cặp bờ sông bên phải, chỗ khúc sông hơi vắng nhà dân và ít ghe qua lại, ghe vừa đậu lại, thì từng chiếc một (cá nhỏ) cập sát đỗ người, trong chốc lát đã gần đầy ghe lớn, chiếc đỗ cuối là ghe ông tám, tôi đếm đủ 5 thằng em trên đó. Như một trận chiến đổ quân, thật vô cùng hấp dẫn, tôi thầm phục ông tám đã dàn quân, bố trận như một kế hoạch hành quân đổ lính rất an toàn. Chừng  năm bảy phút đám quân nằm gọn trong lòng con cá lớn, cảm giác hồi hộp đầy thú vị này làm tôi nhớ lại lúc ngoài chiến trận dẫn trung đội đi tiền đồn, cũng hồi hợp trong nhiều lần bắn lộn với VC thức trắng đêm. Tôi bắt tay ông tám cám ơn với vài lời từ giả và ông cũng dặn tôi cẩn thận khi ra tới cửa biển Hà Tiên.

Cuối tháng mười, trời quá tối thêm nước ròng chảy rút ra cửa biển, theo kế hoạch thì để ghe nổ máy nhỏ rồi chống cho ghe trôi theo dòng nước rút ra ngoài, nhưng không ngờ nước rút quá lẹ, ghe tôi lái dường như bị mắc cạn trên lối đi vào cửa chợ Hà Tiên. Tôi vội vàng nhảy xuống để đo chiều sâu dòng nước, nước không lạnh mà mồ hôi làm tôi ướt lạnh,nước với bùn chưa qua khỏi gối tôi, trong đêm tối cùng 2 thằng con trai ông hai bước đi, lội ngang lội dọc, kiếm tìm cho ra chổ trủng hay mực nước sâu để đẩy ghe trườn về hướng đó, sấp 9 giờ đêm là giờ cấm ghe qua lại, tôi khấn nguyện ơn trên giúp tôi thêm lần nữa, rồi đi ngược về hướng sau ghe xéo góc 45 độ, đi tới một đoạn bỗng nhiên tôi bị sụp vào chổ hố nước sâu, mừng quá tôi đi ngược lại rồi cùng hai thằng con ông hai cố đẩy chiếc ghe đi vào chỗ nước sâu tôi vừa đi tới, cũng may ghe nhỏ, đáy ghe tròn như hột vịt nên dễ quay đầu xoay vòng lại, chúng tôi đẩy tiếp vài phút sau ghe lọt vào vùng nước chảy. Mừng hết lớn, rồi ba thằng nhảy phóng trở lên ghe, lúc này chúng tôi cẩn thận hơn, tôi lái tiếp và bảo 2 thằng em lên phía trước lấy sào chống đo mực nước. Tôi để máy chạy nhỏ tà tà theo dòng nước rút kéo ra, tới ngang chợ Hà Tiên tôi lái qua bên trái để tránh sức nước đẩy ghe vào rạn đáy, đến sát đồn công an thì máy ghe bổng nhiên ngưng chạy, tôi đoán biết chân vịt bị kẹt kẻm gai giăng, trước khi nhảy xuống tôi nói nhỏ mấy thằng em tôi chuẩn bị bung, nếu có tiếng súng từ đồn công an bắn tới. Rồi tôi nhảy xuống nước lặn sâu mò tìm chân vịt, thấy nó bị vướng vào những hàng dây kẽm gai, được kéo dài vào bờ giữ mấy cây trụ chân rạn đáy, tôi cố đè dây kẽm gai cho chân vịt lướt qua, vật lộn với kẽm gai đâu vài ba phút, ghe trườn qua trôi tiếp ra ngoài, hai thằng nhỏ nắm tay tôi kéo lên cho lẹ. Tôi ra lệnh không nổ máy chóng sào ra cửa biển, lúc chân vịt bị vướng kẽm gai tôi thấy vài chiếc xuồng nhỏ với hai ba ngọn đèn dầu loe lóe, tôi nghỉ là dân đi gở cá bị mắc câu, không để ý đến họ, nào ngờ đâu họ chèo ngược vào trong báo cáo. Chúng tôi ráng dùng chèo bơi tránh xa vọng gác cao của công an bên cánh trái, ra tới cửa biển rộng mênh mông, theo hải đồ thì tôi biết khu vực này toàn là cồn cát, nếu mực nước này so với trọng lượng ghe tôi nhỏ xíu thì làm gì bị mắc cạn, nhưng tôi có cảm tưởng như ghe không còn chạy, thật không sai, thằng Lộc con ông hai chống sào đo nước. Nó la lên:
_ Anh tám Khỏe ơi ghe lại mắc cạn nửa rồi, tôi thứ tám tên Khỏe mấy thằng nhỏ hay trêu chọc gọi là “Anh Tám Khỏe” xin ly khai VC, tôi chẳng hiểu câu truyện cải lương này đại ý ra sao, nhưng tôi cũng cười để mấy thẳng em nó gọi. Tôi và thằng Lộc liền phóng nhanh xuống biển, quả thật  mức nước biển tới chừng đầu gối, tôi càng tránh xa đồn công an biên phòng cuối cùng bên cánh phải thì vướng vào cồn cát nổi ngoài khơi, nước sông rút ra biển quá nhanh chính ông hai cũng không ngờ tới. À thì ra đó là lý do công an không canh gác bên mé cạn này, nhưng cũng may đầu mũi ghe chỉ mới vướng vào bãi cát. Thằng Lộc và tôi cố đẩy hông bên phải cho chiếc ghe vừa đủ nổi. Bỗng bên trong chợ, khu ghe Quốc doanh đánh cá, có tiếng la inh ỏi “Ghe vượt biên, vượt biên” vài ánh đèn pin rọi quạt qua, quạt lại như kiếm tìm xem ghe chúng tôi ở nơi nào, tiếng máy Yama đầu bạc một block bắt đầu cành cạch nổ. Thằng Khoa bên trong ghe cũng đề máy lên, tôi và thằng Lộc kéo nhau nhảy lên ghe thật lẹ, khi đã biết được cồn cát nằm bên cánh trái, thằng Khoa giao tay lái lại cho tôi, lúc này tôi bẽ thẳng về hướng đồn công an biên phòng cuối cùng mà chạy, được một đoạn khi tránh xa cồn cát rồi tôi đổi hướng chạy trở ra. Chiếc một block chạy đuổi bám theo ghe tôi sát nút, trên ghe ông hai đọc kinh cầu nguyện cùng một đám người bên dưới hầm tàu.

Rồi vài loạt đạn AK bắt đầu bắn thẳng vào hướng ghe tôi đang chạy, mấy thằng em hốt hoảng nhảy xuống hầm trốn hết.  Với tôi đây là chuyện nhỏ “nếu tài công HQ thứ thiệt gặp trận này tôi không rõ họ sẽ phản ứng thế nào, nhưng với loại HQ 4 chữ TQLC này thì mấy phát đạn bắn đó không nhát được tôi, cùng với kinh nghiệm vừa rồi của chuyến thứ hai mà tôi bị bắt, tự hứa với lòng bị bắn chết cũng chẳng quay đầu. Trời thì tối, khoảng cách cũng hơi xa độ chừng vài trăm thước, tôi tỉnh bơ kêu thằng Khoa trả số 3, tống hết ga tôi chạy thẳng hướng tây, chiếc máy Mercedes thật quả “danh bất hư truyền” lao ù ù trên mặt biển, ghe đi sông “ Chà Dôm” giờ đang đối đầu cùng ghe đi biển, gần nửa giờ mà tôi cũng thấy tụi công an bám đít theo, bất chợt tôi cảm thấy như có điều phép lạ mặt biển mỗi lúc càng nằm yên lặng như mặt nước sông, thêm một áng sương mù phủ lên đường ghe tôi đang chạy. Tôi chợt nhìn qua phải thấy ống bô bên hông ghe xịt lửa, à thì ra tụi nó cố bám theo vì lửa ống bô tàu. Tôi kêu thằng Lộc chạy lên lấy vội tấm bao bố, nhúng nước trùm lên rồi mút nước biển tạt vào, một hồi sau ghe công an gần như mất dấu. Tiếng AK nổ vang vài lần nửa, nhưng lần này nghe xa lắc phía sau. Mấy thằng em với tôi thở phào nhẹ nhỏm, bớt ga lại trung bình rồi chạy tiếp, chạy một đêm tới sáng 7-8 giờ thì cái máy ghe bị trục trặc, bốn máy còn lại ba, chiếc ghe bị sóng chạy không muốn nổi. Nhìn bên trái thấy đảo hòn Khoai còn sờ sờ nằm cạnh. Lúc này ông hai cho biết máy bị bể một ông bét dầu muốn ngừng lại sửa chửa hay để như thế nầy chạy tiếp, rất may là tôi biết được sự vận hành của máy, nếu để chạy thế này thì không lâu cái máy hoàn toàn hết chạy. Tôi ra lệnh cho thằng Khoa tắt máy cho ông hai tìm cách sửa ống dầu.

Chiếc ghe lênh đênh xập xình trôi trên biển bên cạnh hòn Khoai. Sợ công an hay ghe đánh cá nhận diện là ghe sông, tôi ra lệnh phá hết mui trên rồi lấy giây thừng buột vòng mấy trụ cột làm chổ tựa để giử người khi gặp sóng lớn hay mưa to. Mấy con cá chuồn nhỏ thấy ghe sát mặt biển tha hồ đùa, bay phóng qua phóng lại.
Ông hai cho tôi biết là bể chén chận bét ống dầu máy số một, mà ống core đó ông không có mua dự trử, nhưng hy vọng ông sẽ sửa được, cũng may máy không hư trong lúc công an đang rượt bắt, còn bây giờ thì sợ bị ghe quốc doanh đánh cá hay tàu tuần tiểu của công an. Ông hai lò mò mở sửa ông dầu chừng hơn một tiếng, rồi cã ghe quá mừng khi máy ghe chạy tròn vòng trở lại. Tôi vội vàng lấy hướng đảo Thổ Châu trực chỉ, biển vẫn yên sóng nhịp nhàng tôi lái theo lời anh Sơn đã dặn, sóng chẻ 7/3 hoặc 6/4 chạy êm đềm, các đoàn cá heo cứ đua nhau chạy bên hông ghe tôi đùa giởn, sóng vật một hồi, một số khách trong boong tàu thấy quá mệt, tôi cho thay phiên lên trên boong hóng gió. Biển, trời quá rộng mênh mong toàn nước với mây không thấy bóng một chiếc ghe hay tàu nào qua lại. Ghe chạy gần tới tối mới thấy gần ngang đảo Thổ Châu khi qua khỏi đảo tôi thấy năm bảy chiếc tàu ngoài khơi đèn sáng rực. Cả tàu mọi người mừng vui chui ra coi tưởng đâu là tàu buôn của Mỹ. Tôi lấy ống dòm ra nhìn về hướng mấy chiếc tàu, thấy toàn “BÚA, LƯỞI LIỀM” đặt trên nền màu đỏ cùng một đám lính thủy thủ đoàn đi qua lại trên tàu, may thật nếu không chết máy tôi chạy ngang đây lúc còn trời sáng là cả ghe toi mạng.

Đêm tối tôi chạy lòn vào kẻ 2 chiếc tàu nằm chính giửa, vài giờ sau ghe tôi qua khỏi mấy chiếc tàu lớn của Liên Xô, tôi biết chắc chạy qua hết đêm là ra tới Hải Phận Quốc Tế, vì đảo Thổ Châu là ngọn đảo cuối cùng. Trời thì quá tối chiếc ghe tôi cứ tà tà lướt sóng, cũng may cả đêm không mưa và không gió lớn nên sóng phập phòng độ khoảng cấp 2. Khi tới sáng nhìn nước đen mun như mực tôi biết rằng đã thoát được nửa đường, nhìn trái, phải tôi chỉ mấy thằng em những kỳ Cá Mập rải rác trong vùng ghe đang chạy, hoảng hồn cố chạy tránh xa nhưng làm sao tôi tránh khỏi khi đó là vùng cá mập, chỉ cầu trời rồi cho ghe tôi chạy lướt qua. Chạy tới trưa thấy nhiều lon Bia, Coca nổi trôi lều bều trên mặt biển. Cã đám khách trên tàu la reo vui Hải Phận Quốc Tế đã tới rồi,ghe chạy suốt ngày tới chiều tôi thấy đàng xa cuối chân biển một màu mây đen kịch, tôi định lại điểm đứng thấy là mình đang nằm trong hải phận của Thái Lan. Ông hai chủ ghe bảo tôi ráng tránh tàu Thai Lan vì nổi danh hải tặc, nên vừa thấy cột ghe Thái xuất hiện là tôi bẽ hướng tránh tối đa, cũng có lúc gặp tàu buôn nhiều nước khác nhau như Thụy Điển, Hòa Lan, Singapore. Chúng tôi làm dấu hiệu “ SOS” hay đốt lửa khoát tay, nằm lăn ra cầu cứu,  nhưng không tàu nào ngừng lại hay để ý nhìn,  khi còn ở nhà thì nghe đài radio nói ghe vượt biên được tàu buôn vớt, đem về Thụy Sĩ hoặc Hòa Lan, mà khi chúng tôi tới đây thì không thấy con tàu nào tới cứu. Tôi cũng nghe nói có vài dàn khoan dầu dọc theo hải phận Thái, tôi để ý hoài cũng chẳng thấy bóng dáng nơi đâu có chăng là mây với nước.

Trời khuya dần, gió thổi mạnh tôi biết là triệu chứng xấu, hơn 2 ngày rồi tôi không chợp mắt một chút nào, cố lèo lái cho ghe lướt qua những cơn sóng lớn, đít ghe bầu tròn như lòng trứng vịt, không thể chẽ sóng nên tôi phải chiều theo sóng. Trời hừng sáng thì gió to sóng lớn, mây đen kéo đến cả một bầu trời đen nghịt, rồi những cuộn sóng quá cao đẩy ghe lên cao rồi đập xuống, tiếng khóc la của một đám trẻ em, rồi đàn bà la hốt hoảng, ói mửa trong hầm tàu đầy ngập mùi hôi thúi, mọi người trong ghe gần như là xác chết, nhưng cũng không ngớt lời cầu nguyện, lớp người đạo chúa thì đọc kinh cầu Đức Mẹ, còn lại số kia thì niệm Phật A Di Đà. Còn tôi theo đạo Phật, thờ Ông Bà, lớn lên học trường đạo, nên Phật Chúa gì tôi cũng nguyện xin giúp đỡ, và dường như tôi luôn có người phù hộ, cứ mỗi lần thập tử nhất sanh là mỗi lần ơn trên che chở. 

Tội nghiệp thằng Khoa, thằng Lộc thì phụ tôi kiềm tay lái, tôi cố gắng chỉ nó nhớ đi sóng theo lời anh Sơn dặn 6/4 rồi tới 7/3, vật lộn với sóng gần hai ba tiếng, nhiều lần ghe muốn bi lật ngang với những đợt sóng dồn đập liên hồi, quá mệt mõi cùng những lo âu, sợ hãi vì đối đầu với sóng ngọn quá cao, nếu những đợt sóng này liên tục vào lúc ban đêm thì ghe tôi cã đám, mọi người đã làm mồi cho cá mập. Như một phép mầu. Chúa hay Phật đã nghe được lời khấn nguyện. Bổng từ xa xuất hiện hướng trước mặt một đốm trắng bên phải, tôi đoán là tàu đánh cá Thái. Tôi báo ông hai biết để cùng nhau quyết định, lúc biển êm thì bảo tôi phải chạy làm sao tránh tối đa tàu Thái, lúc sóng vật một hồi thì tìm tàu Thái che thân. Ông hai không suy nghỉ bảo tôi chạy tới tàu xin cầu cứu. Tôi đổi hướng lấy điểm trắng ghe làm chuẩn rồi cho ghe mình chạy tới,khoảng một tiếng sau tôi mới đến gần con tàu. Tôi hy vọng sẽ gặp tàu tuần duyên của Thái, nào ngờ đâu ghe đánh cá Thái Lan, thấy ghe tôi chạy tới tàu Thái ngừng lại chờ để kiếm ăn, trên tàu là một đoàn thủy thủ trẻ ở trần mặc toàn quần “xì-líp” với thân người rắn chắc, đang chỉ chỏ vào ghe tôi không cho cập sát, có lẽ tụi Thái sợ nếu đám tôi có súng nhảy lên cướp tàu. Nhưng sóng quá lớn đẩy mũi chiếc ghe tôi đập vào bên hông tàu sắt Thái, nghe cái “RỐP” đầu mũi ghe chà dôm gãy nát, hộc nước ngọt dằng mũi cho ghe chạy đầm khi bị sóng  cũng bị chảy hết ra ngoài. Tôi thấy tụi Thái ra dấu hiệu “quay vô lăng” muốn biết ghe tôi ai là ngưởi lái. Cã đám người trên ghe chỉ thẳng vào tôi, rồi tụi nó muốn đưa tôi qua bên đó nên kéo ghe tôi đến sát hông tàu. Tôi vừa phóng người lên trên boong tàu Thái, thì ghe tôi bị thã trôi ra tuốt ngòai sau chừng 15 mét. Một thủy thủ Thái móc cây dao mã tấu kê ngay vào cổ tôi, tay bên kia nó tướt lấy chiếc đồng hồ tôi đang đeo trên tay trái, tôi nghĩ lúc này nếu tôi phản ứng chóng lại có lẽ đầu tôi lìa cổ, và mọi người trên ghe tánh mạng khó an toàn, có thễ bị cướp bóc, hãm hiếp, đánh đập rồi đâm bể tàu, hoặc nếu trên ghe có súng thì tình hình trở nên đổi khác. Xong nó đẩy thẳng tôi vào trong phòng tên thuyền trưởng và đóng xầm cửa lại.Trên ghe tôi, ông Hai cùng một số người la kêu cầu cứu tôi bằng tiếng Việt.
-Đừng giết nó, đừng giết nó, mấy ông Thái Lan ơi
Mấy thằng thủy thủ Thái tụi nó chẳng hiểu gì khi nghe người trên ghe la lên bằng tiếng Việt. Tôi bị đẩy vào trong phòng lái cho thuyền trưởng hỏi cung, tụi nó biết VN rất ít người biết tiếng Thái nên dùng tiếng Anh để hỏi, tôi thì quờ quạng còn thuyền trưởng Thái cũng chẳng rành, rồi hai thằng tôi cứ ú, ớ qua lại. Tôi thấy hai thằng Thái đen đứng ngoài cầm mã tấu dài nửa thước canh chừng tôi phản ứng. Thuyền trưởng Thái quát to  “You VC, you VC?”
-No VC, no VC, I am Vietnamese. tôi trả lời
-You North VN?
-No, no South VN tôi trả lời.
-You Where? you where?
Rồi nó chỉ vào tấm hải đồ đang nằm trải thẳng trong phòng lái, bên trên là cái hải bàn to tướng. Nhìn thấy hải bàn của nó mặt kim chỉ Nam, Bắc nhẹ nhàng từ từ di động mỗi khi có đợt sóng lớn đập vào tàu, còn hải bàn trên ghe tôi thì nó quay như chong chóng, ghe lắc là kim quay một hồi mới nghỉ. Tôi hiểu ý nó hỏi nên vội lấy tay chỉ vào nơi xuất phát cửa Hà Tiên và hướng Tây 270 độ tôi đi. Nó thử tôi chỉ vào hải đồ cửa biển ngoài miền Bắc rồi chỉ vào tôi xem phản ứng ra sao. Tôi cứ nhất định tôi ở miền Nam đưa tay chỉ vào chổ tôi vừa chỉ nó. Nói qua lại dùng hết “Miệng rồi Tay” tôi mỏi mệt, nhìn lên trên góc trái thấy nó thờ hình tượng Phật, tôi chỉ vào hình, rồi chỉ vào tôi, xong tôi chấp tay “lạy, xá xá”. Nó nhìn tôi như hiểu ý tôi muốn nói gì, suy nghỉ một hồi,  nó vẽ hình 2 chiếc ghe Lớn, Nhỏ, kéo móc nhau chạy thẳng vào bờ. Rồi nó ra dấu hỏi tôi “tiền, đồng hồ, nhẫn, vàng, hột xoàn” tưởng tôi không hiểu nó diển tả làm đủ cách. Rồi đưa giấy cho tôi viết mấy lời kêu người trong ghe tôi đưa tiền, nử trang cho nó. Tôi viết một đoạn yêu cầu khách trên ghe hãy vì sự sống nên đưa ra tiền, vàng, hột xoàn nếu có để được Thái tụi nó kéo vào bờ.

Vừa viết xong, thằng Thái đen lực lưởng bỏ thư tôi vào túi nylon quấn lại rồi lao mình xuống biển trong lúc sóng lớn nhồi đập ầm ầm. Lúc đó chiếc ghe nhỏ của tôi neo ngoài sau bị sóng cao dồn dập nhồi lên, nhồi xuống, cã đám người nằm la liệt trên ghe chằng chịt cột nhau bằng những cuồn dây bố, vì sợ sóng nhồi văng ra ngoài biển. Chưa đầy một phút tôi thấy nó trèo lên ghe tôi đưa tấm giấy. Ông hai chủ ghe đọc lớn cho mọi người nghe lời kêu gọi, rồi ông lấy bao nylon bò đến từng người gom góp cả ghe. Trong lúc ghe tôi đang góp tiền thì thuyền trưởng cho áp tải tôi ra ngoài sau boong tàu chờ đợi, thằng Thái đen lấy cho tôi một bịch mì gói, đang đói bụng tôi xé ra cắn, nhai nuốt ngon lành, cọng mì thái lúc đó không hiểu sao tôi thấy hương vị thơm ngon, như chưa bao giờ tôi được ăn loại mì nào ngon như thế. Một vài phút sau tên thái đen bên ghe tôi bơi trở lại cắn trên miệng bị nylon tiền, nhảy lên tàu nó giao cho thuyền trưởng, thoáng nhìn thấy bịch nylon chứa tiền dầy cộm, cả đám thủy thủ Thái tưởng tiền “ĐÔ LA” mừng vui ra mặt, khi đổ ra chỉ thấy hình “BÁC GIÀ RÂU” với một số dây chuyền đồng hồ đa số toàn đồ giả. Tên thuyền trưởng giận lên chưa từng thấy, gom hết đóng tiền bỏ trở lại bịch nylon, đưa cho thằng thủy thủ đem đi trả. Liền lúc đó nó đạp tôi văng xuống biển, lấy mã tấu nó chặt đứt sợi dây neo. Ông hai chủ ghe thấy tôi bị đạp xuống biển, ra trước mũi ghe quì lạy bọn Thái trên tàu.

Sóng biển lớn đánh tôi nổi lên, rồi chìm xuống, lặn hụp một hồi tôi may quá nắm được sợi dây thừng, mấy thằng em trên ghe kéo rút tôi vào đem lên ghe, rồi tôi giải thích cã đám khách đi đều run sợ, bọn Thái có thể  sẽ đâm bể tàu, hoặc cho sóng biển đập một hồi cũng bể ghe, chưa kể là tụi nó bắt gái qua hãm hiếp.Nghe tôi nói thì vài ba cô gái trẻ đẹp đang nằm như chết, vội chui vào hầm lấy nhớt máy trét lên đày mặt mày và quần áo, nhưng tôi thấy cũng còn lộ nét trắng tươi. Thấy nói có lý bà con bảo tôi ra ngoài kêu Thái Lan trở lại, tôi ra ngoài mũi ghe đứng đưa tay ngoắc, còn ông hai thì vẫn còn quì trước ghe cầu nguyện. Ghe bị đánh trôi xa một đoạn, chiếc tàu Thái từ từ lùi lại tiến đến gần, một tên thái cắn bịt nylon lội quay trở lại, rồi đưa cho tôi  cái túi để gom tiền. Tới lúc đó tôi thấy người Việt Nam thật tội, tại vì sao ra đến nổi nầy. Người thì moi tiền từ trong gấu áo, kẻ xé quần lấy mấy chiếc nhẫn đưa ra, trong quần xì líp, trong  áo xú chen tất cã đều đem ra bỏ bịch, gom tổng cộng với tiền Đô La chừng vài ba lượng vàng. Tôi cột lại đưa cho thằng Thái đen lội về cho tên thuyền trưởng. Bọn nó đổ ra đếm, dường như là ăn đồng chia đủ, rồi lấy dây neo thả cột ghe tôi vào, chờ đêm xuống mới bắt đầu kéo, nó không dám kéo ban ngày sợ tàu tuần tiểu Thái Lan và Liên Hiệp Quốc.

Lúc trên tàu Thái tôi hỏi vị tri của ghe tôi trên biển, thuyền trưởng có chỉ tôi rồi ra dấu thêm một ngày nửa là ghe tôi sẽ đụng tới bờ. Như vậy thì tôi lái ghe đi cũng gần chính xác, cũng thật không ngờ tôi là tài công 4 chử TQLC cũng đưa được ghe ra tới chốn này. Chúng tôi nằm chịu sóng nhồi hơn 6 tiếng đòng hồ, từ hơn 10 giờ sáng đến gần 5 giờ. Biển lúc chiều dịu lại, tàu Thái Lan bắt đầu nhổ neo chạy, kéo thêm ghe tôi không nổ máy mà chân vịt quay ào ào, chiếc chà dôm lướt như bay trên mặt biển, rất nguy hiểm nếu gặp luồng sóng lớn, tôi lúc này cứ phó cho số mệnh, để đám Thái lôi còn hy vọng được tới bờ, còn không sóng lớn đánh một hồi thì ghe chìm lĩm. Trời ngoài biển bây giờ tối đen như mực, tới gần 12 giờ đêm ghe tôi bị đức dây kéo, chúng tôi kêu la inh ỏi giửa đêm khuya, chắc máy tàu Thái Lan nổ lớn không nghe nó đành chạy tuốt, bỏ lại ghe chúng tôi giửa đêm khuya lững lờ nhấp nhô trên biển, đang suy nghỉ tìm định lại hướng đi thì  lúc đó nó quay tàu lại, rọi đèn pha để tìm. Thấy đèn pha kiếm chúng tôi la lên tiếp, đám Thái nghe la lái tàu chạy tới, nối cột dây trở lại, lần này tàu kéo chậm lại có lẽ tụi nó biết chạy nhanh qua dây thừng ghe tôi không chịụ nổi, và cũng không cho ghe tôi nhảy sóng quá cao. Tới khoảng 2 giờ sáng tôi thấy những giải đèn vàng mập mờ xuất hiện, nó kéo thêm một đoạn xa khi nhìn thấy rỏ hàng đèn. Rồi nó ngừng lại kêu tôi ra chỉ hướng đó bảo ghe tôi chạy thẳng tới, thấy còn xa nên tôi ra dấu là ghe hết chạy được rồi. Tên thuyền trưởng ra dấu tay sẽ bị còng khi police thấy, xong nó thảy qua 2,3 thùng mì gói, thấy lòng nhân đạo nên vài người trên ghe tôi móc đưa thêm cho nó một hai chỉ vàng. Rồi tàu nó nổ lớn máy phóng đi mất dạng. Quá may mắn cho chúng tôi gặp bọn Thái lấy tiền nhưng người còn có lương tâm làm điều không xấu.

Tôi bảo thằng Khoa, thằng Lộc vào tát nước dưới chân máy, rồi đề máy cho tôi lái chạy vào hàng đèn vàng trước mặt, lu bu một hồi sóng đánh trôi ghe mất dấu khu vực có nhiều đèn, thấy tưởng gần nhưng ghe tôi phải lái hơn một tiếng. Gần tới sáng khoảng 4 giờ ghe tôi đụng gần bờ biển, tôi muốn thã neo cho ghe nằm ngoài hóc núi, khi tới sáng, quan sát rồi hảy chạy vào bờ. Ông hai bảo tôi cứ kiếm chổ trống cho ghe tới bờ cho chắc.Nghe lời ông hai tôi chạy tiếp, thấy đàng trước có bãi trống tôi xỉa mũi chui vào, đêm tối quá tôi không thấy được bờ biển, thì đùng một cái đợt sóng lớn đánh chiếc ghe văng lên trên bờ biển cát. Lúc đó tôi không định được vị trí ghe mình là ở nơi nào, sợ ăn cướp nên tôi kêu hết đám thanh niên trên ghe xuống đảy ghe trở ra biển. Tôi đếm được có mười mấy thằng, còn bao nhiêu lại là con gái, đàn bà, con nít. Rồi cả đám đẩy ghe trở xuống nước, lừa khi sóng đập vào tôi kéo số de, được vài ba đợt sóng chiếc ghe lùi ra trở lại, tôi chạy lùi ra xa bãi cát, rồi ra ngoài một góc eo nhỏ, bỏ neo ngủ chờ trời sáng sẽ định tiếp hướng đi. Vừa chợp mắt khoảng một tiếng đồng hồ thì trời hừng sáng, dân trong làng Thái thấy ghe lạ thì họ biết chắc là ghe của VN. Bốn, năm chiếc xuồng nhỏ chèo phóng ra ăn cướp, thấy cầm dao tôi bảo thằng Lộc chặt bỏ neo, thằng Khoa đề máy sang số de xong tôi chạy tuốt ra ngoài khơi, chạy tới, chạy lui dọc bờ biển tìm chổ đông người,để cho ghe vào xin tỵ nạn nhưng không thấy chổ nào là đông đúc, mấy chiếc ghe con canh ghe tôi từng chút. Gần 9 giờ sáng tôi chạy vòng lại nơi khoảng trống mà lúc khuya ghe tôi bị sóng đánh văng lên cát. Chợt thấy một số người dường như không là dân Thái thêm mấy chiếc bườm xanh, đỏ đang kéo ra. Tôi lấy ống dòm nhìn thật kỷ, đúng là dân du khách nước ngoài. Tôi lấy lái chạy thẳng vào trong bãi, cã đám Tây hốt hoảng chạy lên bờ, tôi thấy vậy quẹo ghe qua bên trái cách xa chổ bãi tấm chừng gần 100 mét. Rồi la lệnh tất cã bỏ ghe nhảy xuống biển lội lên bờ.

Một đám dân cướp cạn, xỉa dao lấy đồng hồ, mò khám xét rồi nhào lên ghe lục soát tứ tung, thấy ông hai ôm cái hộp vuông không nhỏ, tụi Thái dựt lấy, và mở ra thấy vài cục đất khô, và nó tưởng ông giấu hột xoàn nằm trong đó, đưa vào miệng cắn nát mấy cục đất đen. Đất bể nát tụi nó không thấy gì trong đó, tức giận cứng người nó quăng luôn cái hộp xuống biển một cái đùng, tôi hỏi ông hai có cái gì trong đó. Ổng trả lời:
-Mấy cục đất sét của VN tao đem theo và cầu nguyện khi tới nơi tao cúng rồi quăng trở lại biển cho quê hương mình. Giờ thì tụi nó cắn nát cũng kể như tao đã cúng.
Lục xét xong, đám Thái ăn cướp lấy ghe ông hai phóng chạy mất khi thấy mấy người du khách ngoại quốc tới, không có người Mỹ, toàn là dân Tây. Trong số đó có một người Tây bảo chúng tôi cho biết bao nhiêu người, để ông đi bộ ra đồn cảnh sát báo. Lúc này tôi mới biết được ghe tôi tổng số có 34 người, đi trên chiếc chà dômdài 10 mét trải qua cuộc hành trinh dài 3 ngày 4 đêm từ cửa Hà Tiên VN đến đảo Sa Mui, Thái Lan ngày 3-11-1980.
Vài tiếng sau cảnh sát tới nơi dẫn bộ chúng tôi về đồn lập thủ tục, sau 3 tuần lưu lại nơi đảo “SA MUI” chúng tôi được đưa về trai ti nạn “Songkhla” Thái Lan ngày 25-11-1980.

Tôi biết chắc mình đã sống và đến bờ tự do. Một buổi chiều, lang thang trên bờ biển Songklha, lòng tôi chạnh nhớ quê nhà, rồi ghi vội vài dòng thư cho bạn mình vào trong nhật ký.

Nhiều lúc tôi đứng trên bờ biển Thái,
Hướng nhìn về bên kia vùng bờ biển nướcViệt Nam.
Thương cho những bạn tù của tôi đang còn vác cuốc.
Ngày như đêm không biết được tương lai.
Tôi thật may mắn đứng bên nay vùng đất tạm.
Rồi mai đây tôi sẽ đến được nước thứ ba.
Tôi mong các bạn được một ngày sớm thả.
Tìm đến nơi đây hít thở không khí tự do.

Được sống tạm ở trại Songkhla một thởi gian gần ba tháng, thủ tục giấy tờ xong tôi được chuyển đến trại GalangII, Indonesia. Rồi đến Mỹ ngày 4 tháng 8, 1981 theo diện Sponsor chùa tới vùng Long Beach rồi San Jose là nơi tôi tá túc đến hôm nay.

Hơn 32 năm kể từ khi tôi thoát khỏi cảnh lao tù CS. Giờ đây ngồi ôn lại những gì còn trong ký ức. Thương cho những bạn tôi đã chết nơi lao tù, hay chiến trường khi còn quá trẻ. Tuổi ngây thơ trong đất nước chiến tranh. Tôi được may mắn cũng nhờ ơn trên phù hộ, thoát qua khỏi nhiều lần gian nguy, hiểm trở: vượt trại lao tù, trốn vượt biên và may mắn trong lần vượt biển. Rồi tới đất Mỹ với hai bàn tay trắng, tưởng rằng đâu tôi chỉ biết có “Bóp Cò” Đã trãi qua rất nhiều năm cực khổ: cắt cỏ, bỏ báo, hái dâu và đồng thời đi học vài ba năm tôi làm được job technician, thấy thích thú tôi lò mò học tiếp cuối cùng thì tôi cũng làm được kỷ sư trong nghành Networking. Cám ơn nước Mỹ thật nhiều đã cho tôi cơ hội, nên đã đền đáp được những tấm chân tình của hầu hết những ân nhân, gia đình và bạn bè đã giúp đở tôi trong hoàn cảnh khốn cùng. Cám ơn bà mẹ nuôi “Phan Thi Hồng Hoa” đã cho tôi chổ ở, cơ hội cùng tất cã mấy đứa em: Phục, Phú, Phong, Phấn đã che giấu và giúp đở tôi trong lúc trốn tránh lao tù. Tôi không gặp lại ông hai kể từ khi qua Mỹ, nếu giờ này còn sống ông đã quá 90. Đã hơn 30 năm nhận nơi đây làm quê hương thứ hai để sống. Giờ đây hai đứa con tôi đã ra trường và đi làm việc.
Tôi dự tính sẽ về hưu sớm trong vòng hai năm tới. Một lần nửa cám ơn tất cã bạn bè, ân nhân đã giúp đở và cho tôi cơ hội.  Once again “THANK YOU AMERICA.”

Khỏe Trần (60) Engineer,   Nghiêm Trương (59) Prudential Insurance Agent, Retired 2009, Thiện Lê (40) Engineer, Dana N. Trần (36) Attorney at Law,
Athyna Lê &Taylor Lê (7) Second grade, John Trần (28) Engineer